Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Võ Chí Công, Chủ
tịch Hội đồng Nhà nước (7-8-1912 - 7-8-2012), đồng chí NGUYỄN VĂN CHI,
nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Ðảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra
T.Ư đã viết bài về bản lĩnh kiên cường, phẩm chất cao đẹp của đồng chí
Võ Chí Công. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho, từ nhỏ đồng chí Võ Chí Công
được giáo dục về tinh thần dân tộc, yêu nước tiêu biểu là ảnh hưởng của
nhiều chí sĩ xứ Quảng như Hoàng Diệu, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh,
Huỳnh Thúc Kháng... và các phong trào đấu tranh chống sưu thuế, đòi dân
sinh, dân chủ của dân chúng vùng Nam Trung Kỳ. Do đó, đồng chí sớm giác
ngộ cách mạng, hoạt động phong trào thanh niên từ năm 1930 đến 1935 được
kết nạp vào Ðảng Cộng sản Ðông Dương nay là Ðảng Cộng sản Việt Nam.
Trải qua bao thăng trầm của cách mạng Việt Nam, thời kỳ chống thực
dân Pháp và nhất là thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, đồng chí đã dành trọn
cuộc đời cho Tổ quốc, cho đất nước để hôm nay chúng ta được hưởng hạnh
phúc trong hòa bình.
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí là tấm gương sáng cho
chúng ta noi theo. Ðồng chí đã trải qua nhiều cương vị lãnh đạo chủ
chốt khác nhau của Ðảng và Nhà nước qua các thời kỳ cách mạng. Dù bị
địch bắt, tra tấn, tù đày, kết án tù chung thân, nhưng đồng chí không
sờn lòng, quyết theo Ðảng, theo cách mạng đến cùng. Trong kháng chiến
cũng như trong hòa bình xây dựng đất nước, đồng chí là mẫu người tiêu
biểu "Sống hết lòng vì Ðảng, vì dân, có phẩm chất đạo đức cách mạng cao
đẹp của người cộng sản, cống hiến trọn đời cho Tổ quốc chúng ta".
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tại chiến trường Quảng Ðà
thuộc Khu ủy Khu 5 cũng như sau hòa bình 1975, tôi không thể nào quên
được hình ảnh của một người anh, người đồng chí luôn có tâm hồn cao đẹp,
bình tĩnh sáng suốt và quyết liệt trong lãnh đạo, vượt qua nhiều tình
huống khó khăn và khốc liệt nhất ở chiến trường, luôn luôn có ý chí tiến
công cách mạng đã đánh là quyết thắng. Tên tuổi của đồng chí Võ Chí
Công đã quá đỗi gần gũi với quân và dân cả nước nói chung và Khu 5 nói
riêng. Từ trẻ đến già đều gọi đồng chí là anh Năm, bác Năm thân thương
và yêu quý, đó là người anh, người đồng chí trong đại gia đình cách
mạng.
Ở chiến trường, đồng chí luôn là người chỉ huy tin cậy, là chỗ dựa về
tinh thần vững chắc của quân và dân ta. Trong những năm tháng khó khăn
nhất của cách mạng miền nam, nhất là khi Ngô Ðình Diệm khủng bố, tàn ác
bằng Luật 10/59, đồng chí được Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ III năm
1960 bầu vào Ủy viên BCH T.Ư, làm Bí thư Khu ủy Khu 5, năm 1962, làm Phó
Chủ tịch Ðoàn Chủ tịch Ủy ban T.Ư Mặt trận dân tộc Giải phóng Miền Nam
Việt Nam, Phó Bí thư T.Ư Cục Miền Nam, trực tiếp phụ trách Khu ủy và
Chính ủy Quân khu 5.
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí đã được Ðảng và nhân dân
ta tôn vinh, đánh giá cao về công lao đóng góp to lớn của đồng chí, là
một trong những người lãnh đạo xuất sắc nhất trong phong trào đấu tranh
cách mạng, một người con ưu tú nhất của đất Quảng Nam - Ðà Nẵng trung
dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ với những chiến công vang dội của trận
đầu đánh Mỹ ở Núi Thành. Từ thực tiễn của cuộc chiến đấu, đồng chí đã
tổng kết phương châm chiến lược ba mũi giáp công (đấu tranh vũ trang,
đấu tranh chính trị và binh vận) ở ba vùng chiến lược (thành thị, nông
thôn và miền núi). Ðồng chí sâu sát phong trào, lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể
và quyết liệt để xây dựng lực lượng, xây dựng cơ sở bám đất, bám dân,
phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng tổ chức quần chúng nổi dậy diệt
ác, phá kèm, góp phần cùng cả nước đánh bại chiến tranh đặc biệt, chiến
tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh của kẻ thù. Tôi nghĩ đây là sự
kết hợp nhuần nhuyễn có tính khoa học và lịch sử, vận dụng sáng tạo lý
luận chiến tranh cách mạng vào tình hình thực tiễn nước ta, vận dụng tài
tình và sáng suốt đường lối chiến tranh cách mạng của Ðảng vào thực
tiễn của khu vực Trung Trung Bộ. Ðây là nhân sinh quan cách mạng đã hơn
70 năm gắn bó với cuộc đời đồng chí.
Chúng ta không thể không gắn tên tuổi của đồng chí với những chiến
công oanh liệt mà quân và dân Khu 5 đã giành được ở những năm đầu của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đồng chí là người lãnh đạo chủ
chốt, nếu không nói là người quyết định. Ðó là Tổng tiến công mùa Xuân
Mậu Thân năm 1968. Ðặc biệt là sau khi Mỹ xuống thang rút quân, chịu
ngồi vào bàn Hội nghị Pa-ri từ năm 1968 đến 1973, dù Hiệp định Pa-ri đã
ký kết tháng 1-1973, nhân dân ta tưởng là hòa bình đã được lập lại,
nhưng địch lật lọng vi phạm các điều khoản của Hiệp định, chúng ra sức
lấn đất, giành dân, chiến trường luôn đổ máu. Khu 5 là miền đất trải dài
của vùng Tây Nguyên và duyên hải miền trung là cứ điểm chiến lược quan
trọng số hai của ngụy quyền Sài Gòn là Ðà Nẵng mà chúng dùng làm Tổng
hành dinh của Bộ Tư lệnh Vùng 1 chiến thuật.
Tháng 5-1974, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy T.Ư, đồng
chí Võ Chí Công là Bí thư, là người đứng mũi chịu sào cùng Khu ủy, Quân
ủy Khu 5 đã xây dựng kế hoạch tiến công quận lỵ Thượng Ðức cách Ðà Nẵng
khoảng 50 km về phía Tây Nam là nơi trấn thủ của Ðà Nẵng thể hiện mạnh
mẽ tinh thần tiến công cách mạng. Tiến công Thượng Ðức, ta ra đòn kiểm
nghiệm, thăm dò khả năng ứng phó của chủ lực ngụy, sau khi quân Mỹ rút.
Nơi đây Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từng khoe khoang là "Mắt Ngọc của
Ðầu Rồng", Tỉnh trưởng Quảng Nam mệnh danh là "Cánh cửa thép" là niềm tự
hào, là chỗ dựa đáng tin cậy của Vùng 1 chiến thuật, của căn cứ quân sự
liên hợp hải lục không quân. Chỉ đạo chiến dịch này ta kết hợp ba lực
lượng là: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích cùng sự
nổi dậy của quần chúng, đồng chí Võ Chí Công nêu quyết tâm "Chiến dịch
Thượng Ðức phải thắng cả về quân sự lẫn chính trị". Ðó là bản lĩnh kiên
cường của người chỉ huy. Kết quả là đã giành chiến thắng giải phóng toàn
bộ Thượng Ðức.
Hội nghị Bộ Chính trị từ ngày 30-9 đến ngày 8-10-1974 luôn nhấn mạnh:
Chiến thắng Thượng Ðức khẳng định thêm thời cơ chiến lược của cách mạng
miền nam đã đến cho những trận quyết chiến cuối cùng giành toàn thắng.
Từ chiến thắng Thượng Ðức gắn liền với Khu 5 mà Bộ Chính trị họp tháng
10-1974 nhận định tình hình và thời cơ chiến lược mới, chọn chiến trường
Tây Nguyên là chiến trường chính trong hoạt động mùa khô của toàn miền
nam. Bộ Chính trị quyết định lấy Buôn Ma Thuột làm trận mở màn của chiến
dịch Nam Tây Nguyên vì đây là thủ phủ của tỉnh Ðác Lắc nằm trên trục
đường 14 và 21, thuận lợi cho việc phát triển chiến đấu của các tỉnh Tây
Nguyên xuống duyên hải miền trung và vào Nam Bộ, rộng đường cho giải
phóng toàn miền nam thân yêu.
Ðể nghi binh địch, Quân ủy T.Ư giao cho Quân khu 5 đưa Sư đoàn 3 cắt
đường 19 tiêu diệt một số vị trí địch từ An Khê đến Bình Khê, buộc chúng
phải đưa Trung đoàn 45 từ Ðác Lắc xuống Plây Cu để đối phó với quân chủ
lực ta. Ta tiến công Buôn Ma Thuột, giải phóng thị xã này, đồng chí Võ
Chí Công đã nhanh chóng chỉ đạo thành lập Ủy ban Quân quản thị xã để ra
mắt nhân dân, phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kèm. Sau đó,
đồng chí chủ động đề xuất Bộ Chính trị, Quân ủy T.Ư và được sự chấp
nhận, Quân khu 5 thừa thắng xông lên giải phóng Ðà Nẵng. Chiến thắng
Buôn Ma Thuột đã đi vào lịch sử là trận thắng mở màn của cuộc Tổng tiến
công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước.
Nói đến chiến thắng lịch sử này, chúng ta không thể không nhắc đến sự
góp phần quan trọng của quân và dân Khu 5 nói chung trong đó có vai trò
cá nhân của đồng chí Võ Chí Công với cương vị là Bí thư Khu ủy, Chính
ủy Quân khu 5.
Sau khi đất nước hòa bình, tại Ðại hội lần thứ IV của Ðảng, đồng chí
Võ Chí Công được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị giữ chức vụ Phó Thủ tướng
Chính phủ. Năm 1982, Ðại hội V của Ðảng, đồng chí tiếp tục được bầu vào
BCH Trung ương, bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, với cương vị Thường trực
Ban Bí thư, Ðại hội lần thứ VI của Ðảng, đồng chí tiếp tục được bầu vào
Bộ Chính trị, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.
Dù ở cương vị cấp cao của Ðảng và Nhà nước, đồng chí luôn gắn bó cuộc
đời mình sống vì Ðảng vì dân, học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ vĩ
đại, sống cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Ðồng chí đề xuất nhiều
quyết sách mới trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, đó là tham mưu cho T.Ư
Ðảng ra Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm trong nông nghiệp khi đồng chí làm
Thường trực Ban Bí thư, tháo gỡ khó khăn, đẩy lùi trì trệ, đổi mới cơ
chế quản lý sản xuất nông nghiệp. Ðiều quan trọng hơn, từ đó đồng chí
góp phần khôi phục, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Ðảng nhằm phát
triển nền sản xuất nông nghiệp đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm
cho toàn xã hội, dần hình thành nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa.
Cá nhân tôi không thể nói hết được những gì mà tôi muốn nói về một
đồng chí lãnh đạo của Ðảng, Nhà nước ta. Từ đáy lòng mình khi nghĩ về
những cống hiến của đồng chí cho sự nghiệp cách mạng, tôi không khỏi bồi
hồi xúc động, tỏ lòng cảm phục đồng chí Võ Chí Công, người đảng viên
kiên cường sáng tạo, người lãnh đạo xuất sắc của phong trào cách mạng
Việt Nam.
Tôi mong trong mỗi người chúng ta, thế hệ hôm nay và mai sau luôn
thấm sâu lời nhắc nhở của đồng chí trong hồi ký "Người chiến sĩ cộng
sản, phải luôn luôn rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, phải có tinh
thần cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, phải luôn đặt lợi ích cách
mạng lên trên hết như Bác Hồ đã dạy, có như vậy mới được dân tin yêu và
quý trọng".
Ðồng chí Võ Chí Công đã về cõi Bác Hồ nhưng cuộc đời và sự nghiệp
cách mạng, phẩm chất đạo đức cách mạng của đồng chí luôn khắc sâu trong
tâm khảm chúng ta, nhắc nhở chúng ta sống phải làm gì cho dân ta, cho
Ðảng, cho Tổ quốc chúng ta ngày càng phồn vinh, nhân dân ta ngày càng
hạnh phúc.
NDO
|