|
Trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, kể từ khi Chủ Tịch Hồ Chí
Minh sáng lập Ðảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp công nhân (GCCN) đã tỏ rõ
vai trò tiên phong trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã
hội chủ nghĩa. Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, giai cấp công nhân
Việt Nam vẫn là lực lượng đi đầu.
Ðúng
như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Với lý luận cách mạng tiên phong
và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã
tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân
Việt Nam” (1).
Do
điều kiện lịch sử ở một nước thuộc địa, GCCN Việt Nam ra đời và trưởng
thành gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và đi lên xây dựng
CNXH. GCCN Việt Nam có mối quan hệ tự nhiên, máu thịt với giai cấp nông
dân, với tầng lớp trí thức và nhân dân lao động.
Ðó
là những cơ sở để xây dựng khối liên minh công - nông - trí thức bền
vững ở nước ta. Ðó cũng là cơ sở kinh tế - xã hội vững chắc bảo đảm vị
trí lãnh đạo của Ðảng trong điều kiện hiện nay.
Sau
26 năm tiến hành đổi mới, từ một nước nông nghiệp là chủ yếu, chúng ta
đang chuyển dần thành một nước công nghiệp theo xu hướng hiện đại. Tham
gia vào đủ các thành phần kinh tế, GCCN Việt Nam là lực lượng đi đầu
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế
quốc tế và đã có nhiều cố gắng để phát huy vai trò nòng cốt trong liên
minh giữa GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh
đạo của Ðảng.
Trong
những năm đổi mới, GCCN nước ta đã có những bước phát triển tích cực,
mạnh mẽ, đang tăng nhanh về số lượng, ngày càng đa dạng về cơ cấu, đồng
thời chất lượng đội ngũ được nâng lên, đã xuất hiện bộ phận công nhân
trí thức. Cùng với các giai cấp, giai tầng xã hội khác trong khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, GCCN đã có đóng góp to lớn vào quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Về
mặt sản xuất, GCCN là lực lượng cơ bản, chủ yếu, có vai trò to lớn
trong nền kinh tế quốc dân. Mặc dù về số lượng, GCCN ở nước ta chiếm tỷ
lệ không lớn trong tổng số dân cư (khoảng 13%) nhưng nắm giữ những cơ sở
vật chất và các phương tiện sản xuất hiện đại nhất của xã hội, quyết
định phương hướng phát triển chủ yếu của nền kinh tế. GCCN là lực lượng
lao động đóng góp nhiều nhất vào ngân sách nhà nước. Hằng năm, GCCN đóng
góp khoảng 50% tổng sản phẩm xã hội và bảo đảm hơn 60% ngân sách nhà
nước.
Sự
lớn mạnh của GCCN là nhân tố quan trọng để đưa công cuộc đổi mới đi vào
chiều sâu, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) khẳng định: “Giai cấp công nhân nước ta
có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội
tiền phong là Ðảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức
sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng”.(2)
Mục
tiêu phấn đấu của chúng ta đến năm 2020 là đưa Việt Nam cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trong thời gian từ nay
đến mốc thời gian đó, kinh tế thế giới chuyển mạnh sang nền kinh tế tri
thức, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ cao, khoảng cách giữa các nước giàu
và nghèo sẽ ngày càng gia tăng. Do vậy, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước phải đẩy mạnh hơn, công nghiệp hóa phải gắn với kinh tế tri thức
để rút ngắn thời gian, bảo đảm kinh tế phát triển bền vững, môi trường
được bảo vệ; an sinh xã hội được tăng cường; xã hội phát triển hài hòa;
nguồn nhân lực ngày càng có chất lượng, trình độ cao. Trong bối cảnh đó,
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu trong
thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta, với đầy đủ những mặt tích cực và
cả những mặt trái của nó đặt ra cho GCCN Việt Nam những đòi hỏi mới,
những thử thách mới phải vượt qua.
Tuy
vậy, việc nhận thức đúng và phát huy vai trò của giai cấp công nhân
trong thời kỳ mới còn nhiều bất cập. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6
(khóa X) chỉ rõ: “Ðảng có chú trọng xây dựng giai cấp công nhân, nhưng
quan tâm chưa đầy đủ, chưa ngang tầm với vị trí, vai trò của giai cấp
công nhân trong thời kỳ mới. Nhà nước ban hành nhiều chính sách, pháp
luật xây dựng giai cấp công nhân, nhưng chính sách, pháp luật này vẫn
còn hạn chế...”; “tỷ lệ đảng viên và cán bộ lãnh đạo xuất thân từ công
nhân còn thấp... Lợi ích một bộ phận công nhân được hưởng chưa tương
xứng với những thành tựu của công cuộc đổi mới và những đóng góp của
chính mình; việc làm, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân đang
có nhiều khó khăn, bức xúc...”(3). Ðịa vị chính trị của giai cấp công
nhân chưa được thể hiện đầy đủ.
Sự
phát triển của giai cấp công nhân cũng chưa đáp ứng được yêu cầu về số
lượng, về cơ cấu và trình độ học vấn, về chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế. Chúng ta vẫn còn thiếu nghiêm trọng đội
ngũ chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác
phong công nghiệp và kỷ luật lao động ở một bộ phận công nhân còn nhiều
hạn chế; những nông dân và các tầng lớp lao động xã hội khác mới gia
nhập hàng ngũ GCCN chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống.
Nhằm khắc phục những tồn tại, yếu kém để xây dựng GCCN đủ sức đảm nhiệm được sứ mệnh của mình là lực lượng chủ yếu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
Ðảng ta yêu cầu: Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý
luận về GCCN trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN; đẩy
mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từng bước trí thức hóa GCCN;
quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tính
dân tộc cho công nhân; sửa đổi, bổ sung, xây dựng hệ thống chính sách,
pháp luật để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân;
tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng, phát huy vai trò công đoàn và các tổ
chức chính trị - xã hội khác trong xây dựng GCCN.
Nghị quyết Đại hội XI đã chỉ rõ: “Quan
tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về
số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn,
chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao
động; đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội
nhập quốc tế; bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của công nhân” (4).
Xây
dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết hữu cơ với xây dựng, phát
huy sức mạnh của liên minh giữa GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ
trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng, giữa GCCN với tất cả các tầng lớp xã
hội trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc - động lực chủ yếu của sự
nghiệp phát triển đất nước; đồng thời, tăng cường quan hệ đoàn kết, hợp
tác quốc tế với GCCN trên thế giới. Chiến lược xây dựng GCCN lớn mạnh
phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; chăm lo xây dựng GCCN; bảo đảm hài
hòa lợi ích giữa công nhân và người sử dụng lao động, Nhà nước và toàn
xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân;
quan tâm giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách đang đặt ra
của GCCN.
Ngày
nay, GCCN Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu mới của sự nghiệp cách
mạng. Ðể xứng đáng là lực lượng đi đầu, GCCN phải vươn lên về mọi mặt.
Xây dựng GCCN nước ta lớn mạnh, ngang tầm với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
chủ động vững bước vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ
quan trọng và cấp bách hiện nay, là trách nhiệm của Ðảng, Nhà nước, của
cả hệ thống chính trị cũng như mỗi người công nhân.
Cả hệ thống
chính trị, nòng cốt là cấp ủy và chính quyền các cấp cùng tổ chức công
đoàn cần ra sức quán triệt và thực hiện sáng tạo tư tưởng chỉ đạo của
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) và Nghị quyết Đại hội XI để xây dựng GCCN vững mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.9.
(2), (3) Tài liệu học tập Văn kiện Nghị quyết Trung ương 6 (khoá X), Nxb CTQG, H. 2011, tr 9, 12
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG- ST, H., 2011.tr 240.
|