Có
rất nhiều thuốc có tác dụng hạ sốt, giảm đau, tuy nhiên,
cho đến nay loại thuốc được sử dụng nhiều nhất là
paracetamol (PCM hay còn gọi là acetaminiphen). Trên thị trường
hiện nay có đến hơn 300 tên thuốc có PCM. Việc có quá
nhiều tên biệt được, lại là thuốc bán không cần kê
đơn (thuôc OTC) cho nên PCM được sử dụng khá phổ biến
trong nhân dân. Nhiều người không biết đã dùng cùng lúc
2-3 loại thuốc mà trong thành phần đều có PCM. Thậm chí,
do thuốc được dùng quá phổ biến, nhiều gia đình còn
tồn đọng hàng chục viên PCM chưa sử dụng đã xảy ra
những trường hợp tự tử bằng cách uống PCM với liều
rất cao gây ngộ độc cấp.
PCM - loại
thuốc có lịch sử lâu
đời và có nhiều dạng bào chế
Từ
thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, một loại
bột có vị đắng chiết xuất từ vỏ
cây liễu có tác dụng hạ sốt và giảm đau được sử
dụng là salicin, sau này được điều chế lại thành acid
salycilic, tên thông dụng là aspirin. Trong quá trình tinh chế
và phân lập acid salycilic, PCM đã được tạo ra. Tên hóa
học PCM hay acetaminophen xuất phát từ công thức hóa học
của chất này là Nacetyl-paraaminophenol và para-acetyl-aminophenol.
PCM
có công dụng hạ sốt, giảm đau nhưng ít gây
cảm giác khó chịu ở đường ruột, cũng như
ít các tác dụng phụ hơn so với aspirin. PCM đã trở
thành một loại thuốc hạ sốt và giảm đau
phổ biến nhất trên thế giới hiện nay và là loại thuốc
được bán không cần đơn của bác sĩ. Nó được nhiều
công ty dược sản xuất với nhiều tên thương mại khác
nhau và được trình bày theo nhiều dạng sử dụng khác
nhau. Trong đó có 4 dạng thuốc hạ sốt, giảm đau chứa
PCM phổ biến hiện nay đang sử dụng rộng rãi trong cộng
đồng là:
Thuốc
viên nén hoặc viên nhộng với nhiều loại, nhiều liều
lượng khác nhau. Có 3 liều lượng phổ biến cho
dạng viên là: 100mg, 325mg và 500mg. Một số nhà
sản xuất có loại thuốc dạng viên nén sủi bọt,
có 2 dạng viên thường gặp là: viên chứa 330mg và 500mg
PCM.
Thuốc
dạng bột chứa trong gói: thường có vị ngọt
thích hợp cho trẻ em. Có 3 liều lượng phổ
biến cho dạng thuốc gói này là 80mg, 150mg và 250mg.
Dạng
sirô: thông thường liều lượng là 120mg cho 5ml dung dịch.
Dạng sirô thường có dụng cụ đong thuốc kèm theo giúp
các phụ huynh có thể lường được liều thuốc từ: 2,5ml,
5ml đến 7,5ml. Trên nhãn chai, các nhà sản xuất thường
in liều lượng uống theo lứa tuổi, nhưng vì liều lượng
thuốc ở trẻ em phụ thuộc vào cân nặng nên có thể liều
lượng hướng dẫn trên nhãn chai thuốc sẽ không phù hợp.
Dạng
thuốc viên nhét hậu môn: phải làm cứng viên thuốc trước
khi nhét cho trẻ bằng cách làm đông lạnh. Dạng
thuốc này chỉ nên sử dụng hạn chế khi trẻ
không uống được, nôn ói nhiều, đang co giật hoặc trẻ
đang ngủ mà bạn không muốn đánh thức trẻ dậy. Vì đường
hấp thu tự nhiên của cơ thể là đường uống nên các
phụ huynh chuyển sang cho trẻ uống càng sớm càng tốt.
Dạng thuốc nhét hậu môn sẽ không dùng được khi trẻ
bị tiêu chảy, bị viêm hoặc có vết thương vùng hậu
môn và dạng thuốc này cũng có thể gây ngứa hậu môn
khi dùng.
Thời
gian tác dụng của đa số thuốc có chứa PCM
là khoảng 30 phút sau khi dùng thuốc. Tuy vậy, thời
điểm thuốc có tác dụng nhiều nhất, tốt nhất là
2 giờ sau khi dùng thuốc. Do đó, sau khi uống thuốc, bệnh
nhân phải đợi cho đủ thời gian như trên thì thuốc mới
có tác dụng, không nên lo lắng mà uống thêm thuốc sẽ
gây quá liều có thể bị tổn thương gan do PCM rất độc
với gan ở liều cao. Đối với trẻ em, liều dùng PCM được
tính theo cân nặng với mức dao động từ 10 - 15mg cho mỗi
kg thể trọng cho 1 lần uống. Khoảng cách giữa 2 lần uống
được khuyến cáo là từ 4 – 6 giờ nếu trẻ bị sốt.
Ngộ
độc thuốc PCM và cách xử
trí
Mặc
dù các loại thuốc hạ sốt, giảm đau có PCM
được bán không cần theo đơn nhưng khi sử dụng, liều
lượng thuốc cần phải thận trọng. Vì PCM có rất nhiều
tên thương mại khác nhau và được trình bày theo nhiều
dạng sử dụng khác nhau nên đã có nhiều ca ngộ độc
PCM do sử dụng quá liều.
PCM
với liều điều trị hầu như không có tác dụng phụ,
không gây tổn thương đường tiêu hóa, không gây mất thăng
bằng kiềm toan, không gây rối loạn đông máu. Tuy nhiên,
khi dùng liều cao (>10g) sau thời gian tiềm tàng 24 giờ,
xuất hiện hoại tử tế bào gan có thể tử vong sau 5 -
6 ngày. Biểu hiện của ngộ độc PCM là buồn nôn, nôn
và đau bụng thường xảy ra trong vòng 2 – 3 giờ sau khi
uống liều độc của thuốc. Met-hemoglobin máu, dẫn đến
chứng xanh tím da, niêm mạc và móng tay là một dấu hiệu
đặc trưng nhiễm độc cấp tính dẫn chất para - aminophenol,
một lượng nhỏ sulfhemoglobin cũng có thể được sản sinh.
Trẻ em có khuynh hướng tạo met-hemoglobin dễ hơn người
lớn sau khi uống PCM. Khi bị ngộ độc nặng, ban đầu có
thể vật vã, kích thích mê sảng. Sau đó có thể là ức
chế hệ thần kinh trung ương, hạ thân nhiệt, mệt lả,
thở nhanh, nông, mạch nhanh, yếu, không đều, huyết áp
tụt và suy tuần hoàn, giảm oxy huyết tương đối và cơn
co giật ngẹt thở gây tử vong có thể xảy ra.
Nguyên
nhân do PCM bị oxy hóa ở gan cho N-acetyl parabenzoquinonimin.
Bình thường, chuyển hóa này bị khử độc ngay bằng liên
hợp các glutathion của gan. Nhưng khi dùng liều cao, N-acetyl
parabenzo quinonimin quá thừa sẽ gắn vào protein của tế
bào gan và gây hoại tử tế bào.
Điều
trị
Cần
rửa dạ dày trong mọi trường hợp, tốt nhất trong vòng
4 giờ sau khi uống.
Liệu
pháp giải độc chính là dùng những hợp chất
sulfhydryl, có lẽ tác động một phần do bổ
sung dự trữ glutathion ở gan. N-acetyl cystein
(NAC) là tiền chất của glutathion có tác dụng khi
uống hoặc tiêm tĩnh mạch.
Phải
cho thuốc ngay lập tức nếu chưa đến 36 giờ kể
từ khi uống PCM, nếu sau 36 giờ gan đã bị
tổn thương thì kết quả điều trị sẽ
kém. Dùng NAC uống để giải độc thuốc PCM. Tuy nhiên,
nếu người bệnh không dung nạp với thuốc NAC dạng
uống với biểu hiện nôn ói, nên truyền tĩnh mạch NAC
dạng tiêm mà biệt dược là fluimucil.
Ngoài
ra, có thể dùng than hoạt hoặc thuốc tẩy muối
hay nước chè đặc để làm giảm hấp thu PCM.
Theo ThS. Lê
Quốc Thịnh/SK-ĐS
|