Bộ
Tài chính đã ban hành Thông tư số 153/2010/TT-BTC
ngày 28/9/2010, hướng dẫn thi hành Nghị định số
51/2010 ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về
hoá đơn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
Theo
đó, đối tượng được tạo hoá đơn tự in gồm:
doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp
luật trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất,
khu công nghệ cao; các đơn vị sự nghiệp
công lập có sản xuất, kinh doanh theo quy định của
pháp luật; doanh nghiệp có mức vốn điều lệ từ năm
tỷ đồng trở lên tính theo số vốn đã thực góp đến
thời điểm thông báo phát hành hoá đơn.
Tổ
chức kinh doanh đang hoạt động không thuộc các trường
hợp nêu trên được tự in hoá đơn để sử
dụng cho việc bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ nếu có
đủ các điều kiện sau: đã được cấp mã số thuế;
có doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ; có hệ thống thiết
bị (máy tính, máy in, máy tính tiền) đảm bảo cho việc
in và lập hoá đơn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; là
đơn vị kế toán theo quy định của Luật Kế toán và có
phần mềm bán hàng hoá, dịch vụ gắn liền với phần
mềm kế toán, đảm bảo dữ liệu của hoá đơn bán hàng
hoá, dịch vụ được tự động chuyển vào phần mềm (hoặc
cơ sở dữ liệu) kế toán tại thời điểm lập hoá đơn;
không bị xử phạt vi phạm pháp luật về thuế hoặc đã
bị xử phạt và đã chấp hành xử phạt vi phạm pháp luật
về thuế mà tổng số tiền vi phạm pháp luật về thuế
dưới hai mươi triệu đồng trong vòng 365 ngày tính liên
tục từ ngày thông báo phát hành hoá đơn tự in lần đầu
trở về trước.
Tổ
chức, hộ, cá nhân khi in, phát hành hoá đơn quy
ước các ký hiệu nhận dạng trên hoá đơn do mình
phát hành để phục vụ việc nhận dạng hoá đơn
trong quá trình in, phát hành và sử dụng hoá
đơn. Tùy thuộc vào quy mô, đặc điểm hoạt động
kinh doanh và yêu cầu quản lý, tổ chức, hộ, cá
nhân có thể chọn một hay nhiều hình thức sau để làm
ký hiệu nhận dạng như: dán tem chống giả; dùng kỹ thuật
in đặc biệt; dùng giấy, mực in đặc biệt; đưa các ký
hiệu riêng vào trong từng đợt in hoặc phát hành loại
hoá đơn cụ thể, in sẵn các tiêu thức ổn định trên
tờ hoá đơn (như tên, mã số thuế, địa chỉ người bán;
loại hàng hoá, dịch vụ, đơn giá…), chữ ký và dấu
của người bán khi lập hoá đơn…
Ngoài
ra trong trường hợp phát hiện các dấu hiệu vi phạm có
liên quan đến việc in, phát hành, quản lý, sử dụng hoá
đơn, tổ chức, hộ, cá nhân phát hiện phải báo ngay cơ
quan thuế. Khi cơ quan thuế và cơ quan nhà nước có thẩm
quyền yêu cầu xác nhận hoá đơn đã phát hành, tổ chức,
hộ, cá nhân in, phát hành hoá đơn phải có nghĩa vụ trả
lời bằng văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ khi nhận
được yêu cầu.
Bên
cạnh đó, Thông tư cũng quy định cụ thể
về việc sử dụng hoá đơn; quyền và
nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong quản
lý, sử dụng hoá đơn; xử phạt vi phạm hành chính về
hoá đơn; kiểm tra, thanh tra về hoá đơn, giải quyết khiếu
nại, tố cáo vi phạm về hoá đơn.
Thông
tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2011./.
ĐCSVN |