Trong
Đông y không có tên bệnh “Hội chứng thời kỳ
mãn kinh”, nhưng các chứng trạng của bệnh và cách
chữa trị đã được đề cập trong phạm vi
của các chứng, như “Tuyệt kinh tiền hậu chư chứng”,
“Tâm quý”, Huyễn vậng”, “Tạng táo”, “Uất chứng”,
“Nguyệt kinh quá đa”...
Theo Đông y, nguyên nhân chủ yếu
dẫn tới “Hội chứng mãn kinh” là do thận khí suy kiệt,
chức năng của 2 mạch xung và nhâm (gắn liền với chức
năng sinh sản ở nữ giới) đã suy thoái, khiến Âm Dương
mất cân bằng, Khí huyết không điều hòa, chức năng Tạng
phủ Kinh lạc bị rối loạn gây nên.
Theo
lương y Nguyễn Thị Thu (chủ tịch Hội Đông
y thành phố Vũng Tàu), phụ nữ trong giai đoạn
này cần ăn đa dạng các loại thực phẩm để
bổ sung đủ các dưỡng chất mà cơ thể cần. Lương
y Nguyễn Thị Thu đưa ra lời khuyên: “Chế độ ăn phải
rất hợp lý. Hạn chế loại bỏ nước đá, coi nước đá
là kẻ thù của sắc đẹp. Thứ hai là những người tì
vị hư yếu không nên ăn những thức ăn sống lạnh như
gỏi, rau sống hoặc đồ tái. Những người huyết áp cao
thì không nên dùng cà phê, ớt, hành, tỏi. Đó là những
cái nên tránh. Còn những thứ nên ăn thì những người
tì vị hư yếu, cơ thể suy nhược thì nên dùng thức ăn
bổ cho khí huyết như thịt bò, thịt gà. Nhất là người
lớn tuổi thì nên ăn nhiều cá, những chất tăng cường
chống loãng xương như xương hầm, tôm cua, nghêu sò, ốc
hến. Uống thì nên uống các dạng trà cây cỏ của Đông
y”.
Còn
để dùng thuốc chữa trị những triệu chứng của
giai đoạn tiền mãn kinh, các thày thuốc Đông y có thể
căn cứ vào những biểu hiện cụ thể ở từng người
mà chọn dùng những bài thuốc thích ứng. Trong Đông y chia
ra 3 thể: thận âm hư, thận dương hư và huyết ứ đờm
trệ.
-
Trong đó, thận âm hư bao gồm:
Âm
hư nội nhiệt: tức là kinh nguyệt đến sớm, lượng
ít hoặc ra muộn mà ra nhiều hoặc tắt kinh đột ngột,
đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, người nóng bừng, ra mồ
hôi, miệng khô, đại tiện táo, lưỡi đỏ, rêu ít. Các
thày thuốc sẽ dùng phép trị tư âm thanh nhiệt bao gồm:
Sinh địa, thục địa, đơn bì, phục linh, trạch tả, hoàng
bá, tri mẫu, địa cốt bì mỗi thứ 12 g, sơn thù nhục
10 g, quy bản và long cốt mỗi thứ 20 g. Sắc uống ngày
một thang.
Nếu
âm hư can vượng: tức là kinh nguyệt không đều, nóng
nảy, bứt rứt, dễ tức giận, chóng mặt, đau đầu, hông
sườn đầy trướng, chân tay run, tê nhừ và có cảm giác
kiến bò, rìa lưỡi đỏ. Các thày thuốc sẽ dùng phép
trị tư thận, bình can bao gồm: Sinh địa 16 g, hoài sơn,
sơn thù, bạch linh, đơn bì, trạch tả, kỷ tử, hạ khô
thảo, sài hồ (sao giấm) mỗi thứ 12 g, câu đằng và cúc
hoa đều 10 g. Sắc uống ngày một thang.
Nếu
Tâm thận bất giao tức là kinh nguyệt không đều, nóng
nảy, ra mồ hôi, hay quên, mất ngủ, tư tưởng không tập
trung, hay buồn vô cớ, lưỡi đỏ, ít rêu…thì dùng phép
trị tư âm giáng hỏa: Sinh địa, đan bì, phục thần, bạch
linh, bạch thược, mạch môn, thạch xương bồ mỗi thứ
12 g, ngũ vị tử 6 g, viễn chí 10 g, hoàng liên và cam thảo
đều 4 g, toan táo nhân (sao) 20 g, đại táo 3 quả. Sắc uống
ngày 1 thang.
-
Thận dương hư tức là kinh nguyệt ra nhiều hoặc
đến sớm, người mập, chân tay lạnh, sợ lạnh, mệt mỏi,
phù thũng, tiểu trong, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch
trầm nhược thì dùng phép trị ôn bổ thận dương: Hoài
sơn, sơn thù, đơn bì, bạch linh, trạch tả mỗi thứ 12
g, phụ tử chế và nhục quế đều 4 g. Sắc uống ngày
một thang.
-
Nếu phụ nữ bị huyết ứ đờm trệ
với các biểu hiện như người mệt, lên cân, tinh thần
mệt mỏi, bứt rứt, chân tay nặng nề và tê dại, đầu
nặng, ngực đau, hồi hộp, mất ngủ, lưỡi bệu, rêu lưỡi
dày…các thày thuốc sẽ dùng phép trị hoạt huyết, trừ
đờm: Sinh địa 16 g, đương quy, đào nhân, bạch linh, xích
thược, ngưu tất mỗi thứ 12 g; xuyên khung, hồng hoa, chỉ
xác, trúc nhự, sơn tra, trần bì mỗi thứ 10 g, hoàng kỳ
20 g, cam thảo 4 g. Sắc uống ngày 1 thang./.
Vân
Anh
|