Từ năm 1999 đến nay, tỉnh BR-VT đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong việc phủ xanh đất trồng đồi núi trọc, phát triển và bảo vệ diện tích rừng góp phần đáng kể trong việc cải thiện môi trường sionh thái tại địa phương. Thế nhưng bên cạnh ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ rừng, cũng có không ít người vì lợi ích mà xâm hại rừng.
Phá rừng chiếm đất
Theo Chi cục quản lý Thủy nông, một trong những nguyên nhân của tình trạng chặt phá rừng hiện nay là do người dân tự ý chặt cây, phá rừng để lấy đất canh tác. Một ví dụ điển hình của tình trạng này là việc một số người dân xã Bàu Lâm (huyện Xuyên Mộc) chỉ trong vài ngày đã ra tay chặt hạ hàng chục ha rừng tràm trên một năm tuổi tại ấp Hai Tây và ấp 4 - xã Bàu Lâm do Trạm Quản lý Thủy nông huyện Xuyên Mộc trồng trên đất dự án hồ sông Ray. Vụ việc chưa chấm dứt, trong khi cơ quan chức năng đang truy tìm thủ phạm thì tại một số địa phương khác của huyện Châu Đức cũng lại xảy ra tình trạng chặt phá tràm trồng trong đất dự án hồ sông Ray. Theo ông Nguyễn Ngọc Đìa - công an xã Bàu Lâm, nguyên nhân chặt phá là do người dân không hiểu ý nghĩa của việc trồng tràm nên chặt cây tái chiếm đất để canh tác. “Do khi làm hồ chứa nước sông Ray, Nhà nước tiến hành thu hồi đất người dân đang canh tác các loại cây công nghiệp như điều, cà phê. Sau khi xây dựng hồ, BQL Dự án lại cho trồng tràm khiến họ không phục. Mặt khác, do trong quá trình thu hồi, công tác bồi thường tái định cư chưa thỏa đáng, nên dân vào chặt phá để canh tác hoa màu, cải thiện khó khăn trước mắt”ông Đìa nói.
Số diện tích rừng tràm bị chặt phá nằm trong khu vực tràm 200 ha mới được các công đoàn viên Chi cục quản lý thủy nông tỉnh trồng cách đây một năm và cũng nằm trong Dự án rừng phòng hộ bờ bao sông Ray với tổng diện tích 5.199 ha do Trạm quản lý thủy nông huyện Xuyên Mộc quản lý. Diện tích tràm này được trồng với mục đích là cánh rừng phòng hộ có chức năng chống xói mòn đất, tạo cảnh quan và thảm xanh cho khu vực vành đai của hồ sông Ray. Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Ngọc Điệp, cán bộ Chi cục quản lý thủy nông tỉnh BR-VT, cho biết, nguyên nhân chủ yếu là do người dân không hiểu hết ý nghĩa của việc trồng rừng phòng hộ. “Chính vì vậy, chúng tôi rất mong chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân hiểu ý nghĩa của việc cần thiết phải có rừng phòng hộ và việc trồng cây này là cần thiết để bảo vệ an toàn cho khu vực xung quanh hồ để người dân hiểu và thôi không phá nữa”, ông Điệp bày tỏ.
Quản lý rừng – Cần có biện pháp phù hợp
Cùng với công tác chăm sóc bảo vệ rừng, hiện nay công tác PCCR đang là mối lo chung của hầu hết các hộ nhận khoán. Do địa hình đồi núi cao nên công tác phòng chống cháy rừng của các hộ nhận khoán hiện nay vẫn còn khó khăn, chưa có phương tiện chữa cháy hữu hiệu, chủ yếu chữa cháy bằng tay và các vật dụng thô sơ nên khi có hỏa hoạn lớn rất khó trong việc dập tắt và khoanh vùng khu vực cháy. “Chúng tôi mong muốn nhà nước đầu tư thêm máy móc để phòng cháy chữa cháy rừng có kết quả hơn”, anh Phạm Văn Thành – hộ nhận khoán rừng xã Tân Hòa huyện Tân Thành bày tỏ.
Một nguyên nhân nữa ảnh hưởng đến công tác bảo vệ và phát triển rừng đó là việc áp dụng không hiệu quả các văn bản pháp luật để thực thi công tác quản lý, bảo vệ rừng. Tại hội nghị rút kinh nghiệm về công tác PCCR mùa khô 2009-2010, các đại biểu đã góp ý, để rút kinh nghiệm về các vấn đề có liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Đơn cử là vấn đề giao khóan rừng da beo. Đối với lọai rừng này nhiệm vụ đặt ra cho người nhận khóan là cần phải trồng mới, trồng bổ sung các loài cây phù hợp để nâng độ tàn che và thực hiện các biện pháp lâm sinh khác với mục đích làm giàu rừng để thực sự đúng với ý nghĩa là rừng đặc dụng bảo tồn đa dạng sinh học ,phục vụ nghiên cứu khoa học và tái tạo môi trường, cảnh quan. Khi thực hiện giao khoán, chủ rừng đã giao kèo cho hộ nhận khoán được thực hiện việc trồng cây rừng kết hợp với sản xuất nông nghiệp trên cùng diện tích. Qua thời gian thực hiện, một số tổ chức và cá nhân đã chấp hành tốt việc trồng và chăm sóc trên diện tích nhận khoán, kết hợp tốt việc sản xuất nông nghiệp dưới tán rừng, nhiều diện tích trồng cây gỗ lớn đã thực sự thành rừng. Tuy nhiên cũng có hộ không thực hiện đúng giao kết hợp đồng, không trực tiếp sản xuất, lợi dụng danh nghĩa để cho thuê, mướn đất trồng thuần cây nông nghiệp, sang nhượng hợp đồng trái quy định ảnh hưởng đến cây trồng chính… Đáng lẽ những vi phạm này cần được phân rõ, xem xét, chấn chỉnh kịp thời để hộ nhận khoán thực hiện theo đúng quy định của pháp luật trong việc trồng, chăm sóc, bảo vệ và PCCR. Thế nhưng, chỉ vì số ít hộ nhận khoán vi phạm hợp đồng mà trong mùa mưa 2009, chủ rừng đã viện dẫn các văn bản pháp luật để cấm toàn bộ các hộ nhận khoán không được trồng xen cây mỳ vào diện tích đã trồng cây gỗ lớn, dẫn đến số hộ dân nhận khoán mất quyền lợi, đã không thực hiện phần nghĩa vụ chăm sóc và phòng chống cháy trên diện tích rừng trồng. Đất bỏ hoang, cỏ dại che lấp phần diện tích rừng trồng từ 3-5 năm tuổi và cạnh tranh toàn bộ trên diện tích trồng cây gỗ lớn đã thành rừng.
Chia sẻ về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Chắc - ấp Gò Cát xã Phước Thuận huyện Xuyên Mộc cho rằng, nếu ngành lâm nghiệp không tạo điều kiện cho người dân canh tác xen kẽ để phạt cỏ dại thì vào mùa khô, do cỏ mọc nhiều sẽ rất dễ gây ra cháy rừng. “Mà không được canh tác, đời sống của người dân chúng tôi khổ lắm. Mà túng quá thì làm liều, người dân sẽ lại chặt phá rừng”, bà Chắc nói.
Với địa hình ven biển có núi, đồi, tỉnh BR-VT được xếp vào một trong những vùng nhạy cảm với biến đổi khí hậu, cần triển khai cấp bách các giải pháp ứng phó, trong đó công tác bảo vệ rừng là cực kỳ quan trọng. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, ngoài hai khu bảo tồn ở Bình Châu - Phước Bửu và huyện Côn Đảo, phần lớn diện tích rừng còn lại là rừng phòng hộ ven biển, rừng trồng theo chương trình phủ xanh đất trống, đồi trọc. Những năm qua, mặc dù đã thực hiện nhiều giải pháp để bảo vệ, nhưng rừng ở hai khu bảo tồn nói trên cũng bị thất thoát. Chính vì thế, công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng càng phải được chú trọng quan tâm hơn nhằm bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, vì một môi trường sinh thái bền vững và có giá trị lâu dài.
Lưu Sơn
|