Liên hệ  |  Giới thiệu
ABOUT US
CATEGORIES
SERVICE
PROJECTS
TEARM & CONDITION
CONTACT US
TIN TỨC & SỰ KIỆN
Phò chính, trừ tà
Gương sáng Hồ Chí Minh còn mãi
Chủ tịch Hồ Chí Minh những ngày đầu độc lập
Bình tĩnh, sáng suốt và quyết tâm cao
Việt Nam khẳng định chủ quyền quốc gia trên không gian
Tạo sự đồng bộ về cơ chế, chính sách
Tham nhũng vặt và sự tha hóa
Thư của Chủ tịch nước nhân Ngày phòng chống thiên tai
Tiên trách kỷ
Phụ cấp công vụ: Bỏ sót hay điều chỉnh tại văn bản khác
Đảng và cuộc sống 
Công bố dự tháo báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá IV tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ V- Nhiệm kỳ 2010-2015
29-09-2010 15:20

     Sáng 29/9, tại Hội truờng Tỉnh ủy, Ban Tyên giáo tỉnh Ủy đã tổ chức họp báo chính thức công bố dự thảo báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá IV tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ V- Nhiệm kỳ 2010-2015 nhằm lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân vào dự thảo. brt.com.vn trân trọng giới thiệu toàn văn Dự thảo Báo cáo chính trị này. Mọi thư từ, góp ý cho dự thảo xin gửi về Ban Tuyên Giáo Tỉnh Ủy BRVT, Đài Phát Thanh- Truyền hình tỉnh BRVT, Báo Bà Rịa- Vũng Tàu, imail: Baobrvt@gmail.com; websitebrt@gmail.com 

Dự thảo

TIẾP TỤC NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN  ĐẤU CỦA ĐẢNG BỘ, PHÁT HUY DÂN CHỦVÀ  SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHÁT TRIỂN BÀ RỊA-VŨNG TÀU THÀNH TỈNH CÔNG NGHIỆP, CẢNG BIỂN THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI VÀO NĂM 2015        

      (Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá IV tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ V- Nhiệm kỳ 2010-2015)

      Quá  trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, trong những năm qua tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh gặp không ít khó khăn, thách thức và chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, phát huy truyền thống đoàn kết, đổi mới, chủ động, hội nhập vì sự phát triển nhanh, bền vững và an sinh xã hội, Đảng bộ, chính quyền, hệ thống chính trị và nhân dân trong tỉnh đã vượt khó khăn, hoàn thành cơ bản mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2006-2010 do Đại hội Đảng bộ lần thứ IV đề ra, trở thành tỉnh có quy mô kinh tế lớn trong vùng trọng điểm kinh tế, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V gồm các nội dung sau đây:

      I. KIỂM ĐIỂM 5 NĂM 2006-2010

      1. Năm năm qua, Đảng bộ và Nhân dân trong tỉnh đã phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, đạt được những thành tựu quan trọng, khá toàn diện, có nhiều mặt phát triển mạnh mẽ:

      1. 1. Kinh tế duy trì tốc  độ tăng trưởng cao, cơ  cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ  trọng dịch vụ; các ngành sản xuất, kinh doanh đều phát triển mạnh; hầu hết các chỉ  tiêu đạt và vượt so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV đề ra

       Có 8/9 chỉ tiêu kinh tế chủ yếu vượt mức kế hoạch. Riêng chỉ tiêu giá trị sản xuất công nghiệp xấp xỉ đạt mức Nghị quyết đề ra.

      - Tăng trưởng kinh tế bình quân 17,78%/năm (NQ 17,77%), tính cả dầu thô và khí đốt bình quân 7,7%/năm (NQ 11%); tổng giá trị gia tăng năm 2010 gấp 2,27 lần so với năm 2005, tính cả dầu khí gấp 1,45 lần. Tốc độ tăng trưởng này được Trung ương đánh giá là rất tích cực.

      - GDP bình quân đầu người năm 2010 (không tính dầu thô và khí đốt) đạt mức 5.872 USD, cao gấp 2,28 lần so với năm 2005 và cao gấp hơn 4 lần mức bình quân chung của cả nước(1.200USD/người).

      - Cơ cấu kinh tế: công nghiệp - xây dựng chiếm 64,3% (giảm 0,26% so với năm 2005), dịch vụ chiếm 31,2% (tăng 3,48% so với năm 2005) và nông nghiệp chiếm 4,5% (giảm 3,22% so với năm 2005); tính cả dầu thô và khí đốt: công nghiệp - xây dựng 72,52%, dịch vụ 24,02%, nông nghiệp 3,46%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng với tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ chiếm gần 96%.

      - Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 18,19% (NQ 20,7%)1

      - Doanh thu thương mại - dịch vụ tăng bình quân 26,61%/năm (NQ 19,3%).

      - Giá trị xuất khẩu trừ dầu thô đạt 4.066 triệu USD (NQ 2.107 triệu USD), tốc độ tăng trưởng bình quân 26,71%/năm (NQ 11,98%).

      - Sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực, giá trị sản xuất năm 2010 tăng 1,41 lần so với năm 2005, tốc độ tăng bình quân 7,1%/năm (NQ 6,53%). Trong đó: giá trị sản xuất (GTSX) nông nghiệp tăng bình 6,47%/năm (NQ 6,37%); GTSX lâm nghiệp tăng bình quân 6,92%/năm (NQ 4,24%); GTSX ngư nghiệp tăng bình quân 7,78%/năm (NQ 6,76%).

      - Tổng vốn đầu tư phát triển 5 năm ước đạt 94.807 tỷ đồng (NQ 72.772 tỷ đồng), vượt trên 21 ngìn tỷ đồng (6,99%), tăng gấp 1,7 lần so giai đoạn 2001- 2005.

      - Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 402.471 tỷ  đồng (NQ 333.569 tỷ đồng); trong đó riêng thu ngân sách nội địa đạt 65.096 tỷ đồng (NQ 55.310 tỷ đồng), tốc độ tăng bình quân 17,25%/năm (NQ 11,18%). Tổng chi ngân sách nhà nước khoảng 26.645 tỷ đồng, vượt 46,6%, tốc độ tăng bình quân khoảng 11%.

      Đầu tư nước ngoài tăng mạnh. Năm năm qua cấp 186 giấy chứng nhận đầu tư nước ngoài, với số vốn đăng ký 23,8 tỷ USD; cấp 177 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 88.922 tỷ đồng. Đến nay trên địa bàn tỉnh có 280 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 27,2 tỷ USD và 341 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 135.915 tỷ đồng.

      Tỉnh có 14 khu công nghiệp với quy mô 8.800 ha, trong đó 7 khu công nghiệp thành lập trước năm 2006 đã đi vào hoạt động, lấp đầy 77% diện tích. Trong 5 năm, các khu công nghiệp đã thu hút thêm 162 dự án đầu tư, nâng tổng số dự án đầu tư trong khu công nghiệp lên 222 dự án với tổng vốn đầu tư quy đổi đạt 14 tỷ USD. Đã quy hoạch 30 cụm công nghiệp, trong đó có 6 cụm được đầu tư hạ tầng kỹ thuật.

      Hệ  thống cảng biển được quy hoạch gồm 55 cảng, trong đó có 18 cảng tổng hợp, container; 37 cảng chuyên dùng; đã đưa vào khai thác 21 cảng với công suất 45 triệu tấn/năm. Việc vận chuyển hàng hóa bằng container trực tiếp đi từ Bà Rịa - Vũng Tàu đến Hoa Kỳ và châu Âu đã được khai thông, mở ra triển vọng mới cho kinh tế cảng.

      Năng lực tăng thêm từ các nguồn vốn đầu tư  trong 5 năm đã đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả hơn 460 công trình, trong đó có trên 100 công trình lớn từ nguồn vốn của doanh nghiệp làm cho cơ sở hạ tầng kinh tế tăng đáng kể, các tuyến đường giao thông nông thôn cơ bản được nâng cấp. Nâng cấp, mở rộng được 20 tuyến đường huyện và liên huyện dài 130km, xây dựng mới 76,8 km đường giao thông nội vùng các dự án định canh định cư.

      Tỉnh tổ chức nhiều chương trình, sự kiện văn hóa - thể thao - du lịch quốc gia và quốc tế để quảng bá, tiếp thị về thế mạnh, con người của tỉnh và đất nước. Các khu du lịch của tỉnh đã thu hút hàng trăm dự án đầu tư mới, có nhiều dự án đầu tư quy mô lớn, từng bước hình thành những trung tâm du lịch đồng bộ với nhiều sản phẩm du lịch phong phú, đa dạng. Hệ thống cơ sở lưu trú hiện có 156 khách sạn, khu du lịch với khoảng 6.500 phòng, trong đó có 1 khách sạn 5 sao, 6 khách sạn, khu du lịch 4 sao và hàng ngàn phòng được xếp hạng.

      Nông, lâm, ngư nghiệp có nhiều mô hình sản xuất tiến tiến và giống cây trồng, vật nuôi mới  được ứng dụng; hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh như: cao su, tiêu, cây ăn trái  đặc sản, bắp, rau sạch; năng suất lao động trong nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất được nâng lên. Hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ngày càng vươn ra khơi xa, nuôi trồng thủy sản chuyển biến theo hướng nuôi thâm canh, bán thâm canh. Giá trị sản xuất nông lâm, ngư nghiệp trong 5 năm tăng bình quân 7,1%/năm (NQ 6,53%).

      Các thành phần kinh tế được quan tâm, hỗ  trợ tạo điều kiện phát triển.  Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động có khoảng 7.500 doanh nghiệp, mức vốn bình quân 8,75 tỷ đồng/doanh nghiệp. Có 65 hợp tác xã và 3 liên hiệp hợp tác xã với 10.164 xã viên, tổng vốn điều lệ 109,5 tỷ đồng. Trong 5 năm qua thành lập mới 5674 doanh nghiệp và 39 hợp tác xã; sắp xếp được 54 doanh nghiệp nhà nước đạt 98% kế hoạch sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, trong đó: cổ phần hoá 37 doanh nghiệp.

      1.2. Các lĩnh vực giáo dục, đào tạo; khoa học, công nghệ; y tế; văn hóa, thể dục, thể thao có nhiều mặt tiến bộ. Nhiều chính sách xã hội, biện pháp đảm bảo an sinh xã hội được thực hiện khá đồng bộ. Số hộ nghèo giảm mạnh, thu nhập và đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt

       11/13 chỉ tiêu đạt và  vượt mức kế hoạch. Còn 02 chỉ  tiêu về giường bệnh/1 vạn dân và  số bác sĩ/1 vạn dân chưa  đạt so với Nghị quyết  đề ra.

      - Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,14%, mức giảm sinh 0,03% (NQ 0,03%).

      - Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, từ 25,6% năm 2006 xuống còn dưới 1% năm 2010; tính theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn dưới 0,5%.

      - Tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 55% (NQ 55%).

      - Giải quyết việc làm mới cho 75.000 lao động;

      - Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 54,5% năm 2006 xuống còn 37,9% năm 2010 (NQ giảm dưới 50%)

      - Tỷ lệ học sinh, sinh viên/ vạn dân: 1.910 học sinh;

      - Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 20% xuống còn 12,8% (NQ còn thấp hơn 15%);

      - Số giường bệnh/1 vạn dân đạt 15,2 giường (NQ 25 giường bệnh/1vạn dân). 

      - Số bác sĩ/1 vạn dân đạt 5,8 (7 bác sĩ/1vạn dân).

      - Mức hưởng thụ văn hoá đạt 34 lần/người (NQ 30 lần/người).

      - Tỷ lệ hộ dân được xem được đài truyền hình đạt 98% (NQ 98%).

      - Tỷ lệ dân số luyện tập thể dục thể  thao thường xuyên đạt 25% (NQ 25%);

      - Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng điện đạt 98% (NQ 98%).

      Cơ  sở vật chất giáo dục và đào tạo được  đầu tư  theo hướng "kiên cố hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”. Đội ngũ giáo viên đảm bảo về số lượng, cơ cấu và đạt chuẩn về trình độ. Chất lượng giáo dục được nâng lên, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT, thi đậu các trường đại học, cao đẳng đều tăng. Mạng lưới giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp đều tăng, tạo thành hệ thống liên kết đại học - cao đẳng, trung cấp và cơ sở dạy nghề.

      Đã xây dựng được hệ thống khoa học công nghệ (KHCN) đến cấp huyện và các trạm công nghệ thông tin nông thôn. Một số công trình KHCN ứng dụng có hiệu quả cao, đạt được các giải thưởng KHCN quốc gia và quốc tế.

      Không để xảy ra dịch bệnh diện rộng. Các cơ sở  y tế khám, chữa bệnh cho gần 2 triệu lượt người/năm. Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tử vong, bà mẹ chết liên quan đến thai nhi đều giảm. Nâng cấp, mở rộng, cải tạo, đầu tư mới một số thiết bị thiết yếu phục vụ cho khám chữa bệnh tại các trung tâm y tế Xuyên Mộc, bệnh viện chuyên khoa tâm thần, Trung tâm y tế dự phòng, bệnh viện Bà Rịa và Lê Lợi; có 72/82 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế.

      Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao. Thiết chế văn hóa cơ sở được quan tâm đầu tư và ngày càng hoàn thiện.

      Các Mẹ Việt Nam Anh hùng được chăm lo phụng dưỡng. Các gia đình, cá nhân có công với đất nước được hỗ trợ về nhà ở, giáo dục, đào tạo nghề và tạo việc làm. Các chương trình mục tiêu quốc gia cho đồng bào dân tộc được thực hiện tốt. Công tác xã hội hội hóa chăm sóc, bảo vệ trẻ em được quan tâm.

      1.3. Công tác quản lý đất đai, tài nguyên và bảo vệ môi trường đạt một số kết quả.

      Các chỉ tiêu về môi trường cơ  bản đạt, còn 2 chỉ  tiêu che phủ rừng, che phủ  cây xanh và rác thải chưa  đạt.

      - Tỷ lệ dân số nông thôn dùng nước hợp vệ sinh đạt 98% (NQ 98%).

      - Tỷ lệ cơ sở sản xuất mới xây dựng áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường năm 2010 đạt 100%.

      - Tỷ lệ che phủ cây xanh đạt 44% (NQ 45,5%), tỷ lệ che phủ rừng 13% (NQ 19,5%).

      - Tỷ lệ rác thải sinh hoạt, rác thải dầu khí, rác thải nguy hại và chất thải bệnh viện được thu gom và xử lý đạt 94% (NQ 95%).

       Có 100% số huyện, thành phố, thị xã và  các xã, phường, thị trấn được thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp đạt 73% diện tích đất. Có 04/7 KCN đang hoạt động có đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung, không còn tình trạng xả trực tiếp nước thải ra môi trường không qua xử lý. Các chất thải rắn nguy hại y tế cơ bản được thu gom và xử lý tại lò đốt chất thải y tế chuyên dùng theo quy định. Quy hoạch và đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng khu xử lý chất thải rắn tập trung Tóc Tiên. Dự án thu gom và xử lý nước thải đô thị bằng nguồn vốn ODA tại thành phố Vũng Tàu đã thi công.

      1.4. Phát triển các vùng và huyện, thị, thành phố

      Hình thành hành lang kinh tế công nghiệp - cảng biển dọc quốc lộ 51 và sông Thị Vải - Cái Mép. Gắn với hệ thống cảng là các khu công nghiệp tập trung, với nhiều dự án quan trọng. Huyện Tân Thành quy hoạch, phát triển thành đô thị mới Phú Mỹ theo tinh thần Nghị quyết 53-NQ/TW của Bộ Chính trị. Dọc tuyến ven biển Vũng Tàu - Long Hải - Phước Hải - Bình Châu đang hình thành tuyến hành lang kinh tế biển, ven biển với trọng tâm là các dự án du lịch.

      Thành phố Vũng Tàu với cơ sở vật chất ngày được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của một trung tâm kinh tế, văn hóa, dịch vụ, du lịch, phát triển cảng và khai thác dầu khí của cả nước.

      Hệ  thống kết cấu hạ tầng đô thị của thị  xã Bà Rịa được đầu tư, cơ bản  đáp ứng điều kiện của một Trung tâm hành chính - chính trị của tỉnh. 

      Hạ  tầng đô thị các thị trấn của các huyện Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Châu Đức và hệ  thống hạ tầng nông thôn ngày càng hoàn thiện.

      Đang triển khai xây dựng Côn Đảo thành Khu kinh tế - du lịch và dịch vụ chất lượng cao gắn với bảo tồn, tôn tạo khu di tích cách mạng đặc biệt của Việt Nam và phát triển, nâng giá trị vườn quốc gia theo Quyết định của Thủ Tướng Chính phủ.

      1.5. Công tác quốc phòng, an ninh đạt nhiều kết quả, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. An ninh chính trị nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh văn hoá - tư tưởng, an ninh nông thôn, an ninh thông tin và bảo vệ bí mật Nhà nước được tăng cường. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được triển khai sâu rộng, đạt hiệu quả góp phần nâng cao được ý thức cảnh giác cách mạng, ý thức đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, “khủng bố”, “bạo loạn lật đổ”, tranh chấp chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển của các nước và các thế lực thù địch. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đạt tỷ lệ 1,62%, tổ chức các đơn vị dự bị động viên đạt 80,13%, tuyển quân đạt 100%; giáo dục quốc phòng cho các đối tượng đạt 85%. Triển khai thực hiện chương trình 4 giảm của tỉnh đạt hiệu quả2, các loại tội phạm hình sự, ma tuý, mại dâm, tai nạn giao thông giảm so với cùng kỳ.

      1.6. Công tác xây dựng Đảng và  hệ thống chính trị  được quan tâm chỉ đạo; tiếp tục  đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ  thống chính trị.

      Công tác xây dựng Đảng bộ  trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên luôn được xác định là nhiệm vụ then chốt, trọng tâm.

      - Đẩy mạnh công tác chính trị tư tưởng, công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thành tựu của công cuộc đổi mới, giáo dục truyền thống, thông tin đối ngoại, quảng bá hình ảnh, thế mạnh của tỉnh. Định hướng tuyên truyền, đảm bảo tính toàn diện, tính thống nhất cao về chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng bộ.

      - Công tác tổ chức, cán bộ; công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên có những chuyển biến tích cực. Sắp xếp, kiện toàn các tổ chức trong hệ thống chính trị; sửa đổi, bổ sung quy chế phân cấp quản lý cán bộ; xây dựng chương trình thực hiện Chiến lược cán bộ đến năm 2020. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và quản lý nhà nước cho trên 18.000 lượt cán bộ, công chức. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

      Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 10 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi, đảng bộ cơ sở. Công tác đánh giá chất lượng, công tác khen thưởng tổ chức đảng, đảng viên được thực hiện nề nếp. Tỉ lệ tổ chức đảng trong sạch vững mạnh đạt trên 80%, trên 70% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ. Kết nạp đảng viên mới tăng 6 - 7%/năm. Chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên về trình độ văn hoá, chuyên môn, lý luận chính trị. Tỉ lệ đảng viên nữ, đảng viên trẻ, công nhân lao động trong các thành phần kinh tế, trong ngành giáo dục, y tế đều tăng. 

      - Công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy các cấp trong nhiệm kỳ vừa qua đã kiểm tra gần 11 ngàn lượt đảng viên và 1.600 tổ chức đảng; kiểm viêc thực hiện chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; kiểm tra đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và kiểm tra các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, lãng phí. Công tác giám sát được triển khai thường xuyên; tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ Uỷ ban Kiểm tra các cấp phát triển về số lượng và chất lượng.

      - Tổ chức thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Đảng bộ tập trung lãnh đạo công tác tuyên truyền, tổ chức thực hiện Cuộc vận động trong toàn Đảng bộ và hệ thống chính trị. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức bước đầu chuyển biến về ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân.

      Công tác xây dựng chính quyền: trọng tâm là  cải cách hành chính, gắn với kiện toàn tổ  chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.

      Công tác cải cách hành chính là một trong những nhiệm vụ  trọng tâm trong chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh, trong đó cải cách thủ tục hành chính là khâu  đột phá. Đến nay 100% cơ quan quản lý nhà  nước cấp tỉnh, huyện, thị xã, thành phố và  xã, phường, thị trấn hoàn thiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Tỉnh chính thức công bố bộ thủ tục hành chính áp dụng chung từ cấp xã, đến các sở, ngành. Các cơ quan hành chính kiện toàn theo hướng tinh gọn, quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ và các kiến thức bổ trợ khác cho đội ngũ công chức, viên chức.

      Hoạt  động của HĐND có nhiều đổi mới. Nâng cao chất lượng các kỳ họp, phát huy quyền chất vấn của đại biểu HĐND, tổ chức giám sát theo chuyên đề, kết quả giám sát và xử lý sau giám sát được báo cáo tại các kỳ họp và được thông báo đến các cơ quan liên quan.

      Công tác cải cách tư pháp có những chuyển biến tích cực. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ; từng bước đầu tư trang bị cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho các cơ quan tư pháp. Hoàn thành việc tăng thẩm quyền xét xử cho 8/8 tòa án cấp huyện. Qua đó chất lượng hoạt động của các cơ quan này cũng được nâng lên rõ rệt.

      Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí. Đẩy mạnh các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí như: kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở; bước đầu công khai, minh bạch các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, lãng phí; thực hiện khoán biên chế, khoán chi trong 100% cơ quan hành chính, sự nghiệp; xây dựng quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ; đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý sai phạm, thu hồi tài sản cho Nhà nước.

      1.7. Công tác dân vận của Mặt trận, các  đoàn thể nhân dân đạt nhiều kết quả  thiết thực

      Hoạt  động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã tập trung hướng về cơ  sở, chăm lo đời sống, việc làm, thu nhập, nâng cao kiến thức mọi mặt cho đoàn viên, hội viên, vận động, tập hợp, đoàn kết các đối tượng vào tổ chức. Thông qua triển khai thực hiện các chương trình, dự án quốc gia và của tỉnh, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Phối kết hợp với các lực lượng làm công tác tuyên truyền, nâng cao sự đồng thuận xã hội đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

      Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quan tâm nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân, phản  ánh, đóng góp ý kiến với Đảng bộ và  chính quyền việc thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói, giảm nghèo, an sinh xã hội. Tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo và đồng bào dân tộc, góp phần quan trọng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

      2. Hạn chế, khuyết điểm 

      2.1. Về kinh tế, còn nhiều vấn đề về kết cấu hạ tầng, công tác quy hoạch, bồi thường giải phóng mặt bằng, số lượng lao động nông nghiệp cần phải tiếp tục dồn sức giải quyết.

      - Kết cấu hạ tầng của tỉnh chưa đồng bộ, đặc biệt là chưa đầu tư được các tuyến đường giao thông kết nối hệ thống cảng biển và các khu công nghiệp với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

      - Công tác quy hoạch chưa theo kịp yêu cầu phát triển, việc quản lý sau quy hoạch còn nhiều hạn chế. Quá trình phát triển, đến nay có thể khẳng định khu vực cảng Cái Mép - Thị Vải sẽ trở thành hệ thống cảng trung chuyển của khu vực và quốc tế nhưng hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp còn rời rạc, riêng lẻ chưa có tổ chức quản lý, điều phối chung. Quy hoạch các khu, điểm du lịch chưa hợp lý. Quy hoạch phát triển các ngành phải rà soát, điều chỉnh nhiều lần; một số công trình xây dựng chưa phù hợp với quy hoạch được duyệt.

      - Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư, ảnh hưởng đến tiến độ chuyển vốn đăng ký  sang vốn thực hiện; tình trạng 1 dự án thực hiện nhiều giá, nhiều chính sách khác nhau, thời gian bồi thường, giải phóng mặt bằng kéo dài nhiều năm, đã nảy sinh các khiếu kiện phức tạp, đông người, nhưng giải quyết chưa kịp thời.

      - Khu vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế, nhưng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động đang làm việc, đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế chỉ chiếm 4,5%, nhưng về cơ cấu lao động chiếm hơn 35,4% tổng số lao động đang làm việc. Vì vậy còn khoảng cách lớn về thu nhập và việc làm giữa nông thôn và thành thị, giữa lao động nông nghiệp và lao động công nghiệp, dịch vụ.

      2.2. Một số chỉ tiêu về giáo dục, y tế chưa đạt kế hoạch. Tình trạng học sinh bỏ học tăng nhẹ trong hai năm qua. Nhân lực của ngành y tế còn thiếu, nhất là bác sỹ, dược sĩ, kỹ thuật viên có trình độ chuyên môn cao.

      Công tác giảm nghèo chưa thật vững chắc, số hộ cận nghèo có nguy cơ tái nghèo còn cao. Đời sống công nhân, người lao động và người thuộc diện chính sách thu nhập còn thấp, gặp khó khăn về điều kiện sinh hoạt tinh thần, vui chơi, giải trí.

      Đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng nhất là lao động cung ứng cho các ngành kinh tế biển; nguồn nhân lực qua đào tạo tuy đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra (55%), nhưng phần lớn các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh chỉ đào tạo được những ngành, nghề đơn giản, chưa đào tạo được các nghề có kỹ thuật cao; việc đào tạo chưa thật sự gắn kết với nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp. Quan hệ lao động chưa thực sự hài hòa, xảy ra một số vụ tranh chấp lao động phức tạp.

      2.3. Các dự án thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tại các đô thị còn chậm. Các nhà máy xử lý chất thải công nghiệp không nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt chỉ dừng ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, một vài dự án khởi công nhưng không tiếp tục triển khai. Chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu chôn lấp, chưa đảm bảo vệ sinh và lãng phí tài nguyên đất đai. Nhiều cơ sở hoạt động ngoài các KCN, chủ yếu là các nhà máy gia công, chế biến hải sản chưa đầu tư hoàn chỉnh hệ thống xử lý nước thải theo quy định. Chưa quy hoạch và đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng khu chế biến hải sản, trong đó có các hạng mục đầu tư về bảo vệ môi trường để di dời các nhà máy đang hoạt động ra ngoài khu vực đô thị và khu đông dân cư. 

      2. 4. Công tác xây dựng Đảng về  chính trị, tư tưởng và  tổ chức còn một số  mặt thiếu sót. Công tác tư tưởng của Đảng bộ có lúc, có sự việc chưa được giải quyết kịp thời. Công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên còn hạn chế. Đổi mới việc quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và xây dựng chương trình, kế hoạch hành động chưa được thực hiện triệt để. Công tác cán bộ, công tác quy hoạch, đào tạo, dự nguồn cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng thiếu hụt cán bộ lãnh đạo, quản lý xảy ra ở hầu hết các ban, ngành, địa phương. Tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số đưa vào quy hoạch còn thấp. Phát triển tổ chức đảng, đoàn thể chính trị, phát triển đảng viên, đoàn viên trong khu vực doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn hạn chế. Chất lượng sinh hoạt chi bộ nhiều nơi còn yếu. 

      Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chưa được tuyên truyền sâu rộng trong công nhân các khu công nghiệp, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Sự phối hợp trong triển khai Cuộc vận động giữa các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị còn hạn chế. Chưa chú trọng đúng mức công tác kiểm tra, giám sát việc rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

      Chưa làm tốt việc tăng cường chỉ đạo kiểm tra, giám sát đối với tổ chức, cá nhân trong thực hiện các chủ trương, kết luận của Ban Thường vụ  Tỉnh uỷ và Tỉnh uỷ. Mặt khác ý thức chấp hành sự lãnh đạo, chỉ đạo của cơ  quan có thẩm quyền; ý thức trách nhiệm của các cơ quan tham mưu, quản lý trong việc thực hiện chủ trương, kết luận của tỉnh trong thời gian qua chưa nghiêm, chưa kịp thời, công tác phối hợp chưa tốt. Việc thực hiện chức năng giám sát của Ủy ban Kiểm tra các cấp mới đạt kết quả bước đầu. Một số vụ việc kiểm tra kéo dài, chậm kết luận.

      2.5. Hiệu lực, hiệu quả quản lý  nhà nước kết quả  chưa cao trên một số mặt: cải cách hành chính chưa thật sự đồng bộ; trình độ chuyên môn một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân còn chậm, biện pháp xử lý chưa làm giảm số vụ việc khiếu nại, tố cáo, nhiều vụ việc khiếu kiện kéo dài. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí kết quả chưa cao. Kết quả công tác vận động quần chúng chưa thực sự vững chắc.

       Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội trên  địa bàn còn một số diễn biến phức tạp. Các loại tội phạm hình sự, tai nạn giao thông nhìn chung có  giảm nhưng chưa vững chắc; một số loại tội phạm như dùng công nghệ cao, tội phạm liên quan đến người nước ngoài, tội phạm giết người có xu hướng tăng. Tình hình trật tự xã hội, an ninh nông thôn ở một số địa phương có lúc diễn biến phức tạp.

      2.6. Vai trò đại diện, vai trò giám sát, việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội chưa theo kịp đòi hỏi thực tế. Việc tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia một số phong trào, cuộc vận động của Mặt trận, các đoàn thể còn hạn chế. Chất lượng một bộ phận đoàn viên, hội viên chưa cao. Công tác xây dựng tổ chức, phát triển đoàn viên, hội viên, xây dựng lực lượng cốt cán ở một số lĩnh vực, địa bàn còn yếu. 

      3- Đánh giá tổ quát, 5 năm qua, Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ do Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV đề ra, đạt đươc những thành tựu quan trọng, khá toàn diện, có nhiều mặt phát triển mạnh mẽ. Kinh tế đã tận dụng được lợi thế so sánh, phát triển nhanh, tốc độ tăng trưởng và thu nhập bình quân đầu người khá cao và trở thành tỉnh có qui mô kinh tế lớn trong vùng động lực. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tăng dần tỷ trọng dịch vụ, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư cho phát triển, đã và đang hình thành các trung tâm công nghiệp, cảng, du lịch. Thu ngân sách hàng năm đều tăng cao, đóng góp lớn vào ngân sách quốc gia. Các lĩnh vực văn hoá - xã hội đạt nhiều kết quả; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, tỉ lệ hộ nghèo giảm mạnh. Quốc phòng, an ninh được quan tâm, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự xã hội được đảm bảo. Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị có nhiều tiến bộ, đáp ứng được yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo,  sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên.

      Những thành tựu nêu trên do Trung ương đề ra nhiều chủ trương, chính sách, cơ chế phù hợp; Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương  trực tiếp chỉ đạo, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của tỉnh. Đảng bộ tỉnh luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất và tạo được đồng thuận cao trong nhân dân đối với việc triển khai và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Tỉnh ủy. Sự nhạy bén, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh; sự nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của tỉnh.

      Tuy nhiên, một số mặt còn hạn chế, khuyết điểm: một số tiềm năng, lợi thế của tỉnh chưa được phát huy tốt, sức cạnh tranh của các ngành kinh tế chưa cao. Kết cấu hạ tầng của tỉnh còn chưa đồng bộ, chưa đáp ứng và phục vụ tốt cho yêu cầu phát triển, nhất là đối với hệ thống cảng biển. Các ngành dịch vụ tuy có phát triển, nhưng so với tiềm lực còn nhiều hạn chế. Chuyển dịch lao động nông nghiệp chậm, nguồn lực cho đầu tư phát triển còn hạn chế. Công tác cải cách hành chính tuy có nhiều cố gắng, nhưng kết quả còn thấp so với yêu cầu. Môi trường đầu tư chưa tương xứng với quy mô kinh tế, còn vướng mắc trong xử lý các thủ tục đầu tư. An ninh trật tự vẫn còn nhiều biểu hiện phức tạp. Văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục phát triển chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế. Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân chưa triệt để. Công tác xây dựng Đảng, chính quyền còn một số hạn chế; tỉ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý các cấp còn thấp; hiệu quả, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát cần phải tiếp tục nâng cao.

      Những hạn chế, khuyết điểm trên có  nguyên nhân do ảnh hưởng của  cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới xảy ra vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008; tình hình thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp, thiếu điện vào mùa khô... đã tác động đến sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân; làm chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế, giá trị xuất khẩu, chuyển vốn đăng ký sang vốn thực hiện; thiếu vốn để đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào các dự án và hệ thống giao thông kết nối. Tầm nhìn, khả năng dự báo tình hình còn hạn chế. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đối với một số việc còn chậm, chưa thật quyết liệt, hiệu quả chưa cao.

      4- Từ thực tiễn và qua 5 năm thực hiện Nghị  quyết Đại hội Đảng bộ  tỉnh lần thứ IV, có  thể rút ra các bài học chủ  yếu:

      Thứ  nhất là, giữ vững sự đoàn kết, nhất trí trong toàn Đảng bộ trên cơ sở thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội là nhân tố quyết định làm nên những thành tựu của Đảng bộ.

      Thứ  hai là, kiên quyết, nhạy bén, cụ thể, bám sát thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết đã đề ra.

      Thứ  ba là, phát triển kinh tế phải luôn gắn với yêu cầu an dân, đảm bảo tốt an sinh xã hội, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên với bảo vệ được môi trường sinh thái, lấy cải cách hành chính làm khâu đột phá, thường xuyên giáo dục nâng cao phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức.

      Thứ  tư là, phải giữ vững được ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, tạo điều kiện cho cho mọi người dân và các thành phần kinh tế yên tâm sản xuất kinh doanh, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

      II. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN GIAI ĐOẠN 2011-2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020

      1- Dự báo tình hình trong những năm tới

       Kinh tế thế giới mặc dù có dấu hiệu phục hồi sau khủng hoảng, nhưng tiềm ẩn nhiều khó  khăn, bất ổn; chủ nghĩa bảo hộ phát triển dưới nhiều hình thức; cơ cấu lại các ngành kinh tế diễn ra mạnh mẽ ở các nước; cạnh tranh về kinh tế - thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường, công nghệ, nguồn vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng căng thẳng. Những vấn đề về biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao, thiên tai, dịch bệnh, sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp. Tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên biển Đông ngày càng gay gắt. Những vấn đề đó sẽ tác động đến tình hình phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của tỉnh trong thời gian tới.

      Trong 5 năm qua, hệ thống kết cấu hạ tầng của tỉnh được đầu tư khá. Việc hình thành hệ thống cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải cho những tàu có trọng tải lớn cập bến chở hàng trực tiếp đi châu Mỹ, châu Âu và các nước khác trên thế giới đã tạo ra lợi thế lớn cho tỉnh để phát triển. Cùng với khả năng kinh tế nước ta sẽ phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau thời kỳ suy thoái, Chính Phủ và tỉnh sẽ tập trung đầu tư xây dựng tuyến đường liên cảng Cái Mép - Thị Vải, cải tạo nâng cấp Quốc lộ 51, triển khai xây dựng tuyến đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Vũng Tàu, tuyến đường sắt, sân bay Long Thành ... sẽ kết nối, liên thông hạ tầng giao thông trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Tây Nam bộ, Tây Nguyên. Đồng thời, tạo cho tỉnh trở thành điểm kết nối của sự phát triển trong không gian kinh tế rộng lớn hơn.

        Đây là lợi thế hết sức quan trọng, tạo nên  ưu thế vượt trội, mở ra triển vọng to lớn  để tỉnh phát triển mạnh mẽ về kinh tế  - xã hội trong dài hạn.

      2- Mục tiêu tổng quát phát triển tỉnh trong giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến 2020

      Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến  đấu của Đảng bộ, xây dựng hệ  thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đoàn kết toàn dân; phát triển mạnh kinh tế biển, xây dựng Bà Rịa - Vũng Tàu thành tỉnh công nghiệp và cảng biển theo hướng hiện đại vào năm 2015; phát triển kinh tế gắn với yêu cầu phát triển bền vững; nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội và phúc lợi xã hội; giữ vững ổn định chính trị; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh, khu vực phòng thủ vững chắc.

      3- Chỉ tiêu chủ yếu 5 năm 2011-2015 

      3.1- Về kinh tế

      - Tốc độ tăng trưởng (GDP) bình quân 14%/năm, kể  cả dầu khí bình quân 10,8%/năm. Đến năm 2015, GDP bình quân đầu người đạt 11.500 USD, kể cả  dầu khí khoảng 15.000 USD; cơ cấu kinh tế công nghiệp, xây dựng 62% - dịch vụ 35% - nông nghiệp 3%, kể cả dầu khí: công nghiệp, xây dựng 66,3% - dịch vụ 31,1% - nông nghiệp 2,6%.

      - Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,4%/năm, kể  cả dầu khí tăng 11,66%/ năm. 

      - Doanh thu các ngành dịch vụ tăng 24,39%/năm, doanh thu thương mại tăng 25,52%/năm, doanh thu dịch vụ tăng 21,7%/năm, trong đó: dịch vụ du lịch tăng 15,9%/năm, dịch vụ cảng tăng 35%/năm, dịch vụ dầu khí tăng 22%/năm.

      - Giá trị xuất khẩu3 trừ dầu khí đạt 7.280 triệu USD, tốc độ tăng 13,5%/năm, riêng xuất khẩu hải sản đạt 1.595 triệu USD, tốc độ tăng 7,84%/năm.

      - Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 4,46%/năm, trong đó trồng trọt tăng 3,5%/năm; chăn nuôi tăng 6,5%/năm. Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng 2,45%/năm. Giá trị sản xuất ngư nghiệp tăng 5,6%/năm.

      - Huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011- 2015 khoảng 240 ngàn tỷ đồng, gấp 2,5 lần so với 5 năm 2006 - 2010, tốc độ tăng trưởng 16,6%/năm.

      - Tổng thu ngân sách nội địa trong 5 năm đạt 113.000 tỷ đồng, gấp 1,6 lần so với giai đoạn 2006 - 2010, tốc độ tăng thu khoảng 10,4%/năm. Tổng chi ngân sách khoảng 39.800 tỷ đồng, tốc độ tăng chi khoảng 9,76%/năm.

       3.2- Về văn hoá- xã hội

      - Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,04%, mức giảm sinh 0,2%o/năm; tỷ lệ người biết chữ  99%, tỷ lệ học sinh nhập học tiểu học và  trung học cơ sở 99,5%, nhập học trung học phổ  thông 95%, cao đẳng và đại học 40%. Tuổi thọ trung bình đạt 74 tuổi.

      - Số giường điều trị đạt 26,2 giường/ 1vạn dân; số bác sĩ đạt 6,5 bác sĩ/1vạn dân; tỷ  lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn dưới 10%.

      - Số học sinh phổ thông đạt 1.818 học sinh/ 1 vạn dân; tỷ lệ huy động các cháu đi nhà  trẻ 30% và đi mẫu giáo 85%, riêng trẻ mẫu giáo 5 tuổi trên 95%.

      - Giải quyết việc làm và tạo đủ việc làm cho 173.000 lượt người, trong đó tạo việc làm mới cho 85.700 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%; tỷ lệ lao động nông nghiệp còn dưới  25,5 %.

       - Giảm hộ nghèo theo tiêu chuẩn của tỉnh từ 21,69% so tổng số hộ dân xuống dưới 2,35 % với tiêu chí ở đô thị những hộ có mức thu nhập bình quân từ 900.000 đồng/người/tháng trở xuống và ở nông thôn hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000đồng/người/tháng trở xuống. Cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn mới quốc gia (khống chế tỷ lệ dưới 1%).

      - Mức hưởng thụ văn hóa đạt 42 lần/người/năm; 92% gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa; 92% thôn, ấp  đạt chuẩn văn hóa; 35% dân số tham gia luyện tập TDTT thường xuyên; 98% dân số được xem đài truyền hình; 99% dân số nông thôn được sử dụng điện và nước hợp vệ sinh.

        3.3-Về môi trường

      - Tỷ lệ che phủ cây xanh 44%, tỷ lệ  che phủ rừng 13%.

      - Cơ sở sản xuất xây dựng mới phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm đạt tiêu chuẩn môi trường 100%.

      - Các loại rác thải được thu gom và xử lý  đạt 95%, trong đó rác thải  y tế được thu gom và xử lý đạt 100%.

      - 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung; 100% dự án  đầu tư mới phải sử dụng công nghệ sạch, bảo vệ môi trường.

       3.4- Về quốc phòng, an ninh

      - Tổ chức đủ đầu mối đơn vị, biên chế cán bộ chiến sỹ dự bị động viên đạt trên 95% chỉ tiêu, đảng viên đạt 6,5% so với tổng lực lượng dự bị động viên. Nâng cao chất lượng tuyển quân và đạt 100% chỉ tiêu giao quân hàng năm. 

      - Xây dựng phường, xã vững mạnh toàn diện đạt 85%. Đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ  cán bộ quân sự xã, phường và xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đúng quy định đạt tỷ  lệ từ 1,4% đến 1,8% so với dân số, đảng viên đạt 18%, trong đó dân quân đạt 15% so với tổng số dân quân.

      - Đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chương trình 4 giảm: giảm tội phạm hình, giảm tệ nạn  ma tuý, mại dâm và giảm tai nạn giao thông.

      3.4-Về công tác xây dựng Đảng

      - Bồi dưỡng lý luận, chính trị cho 100% cán bộ,  đảng viên. Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, quản lý nhà nước từ 30% trở lên. 100% cấp ủy viên được bồi dưỡng chương trình cấp  ủy cơ sở. Triển khai thực hiện có hiệu quả  Chương trình đào tạo tiến sỹ, thạc sỹ trong và ngoài nước.

      - Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy 15%; tham gia các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp từ  30% trở lên.

      - Cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh trên 85%, cơ sở đảng yếu kém dưới 1%. 100% các tổ  chức thôn, ấp, khu phố; cơ quan trực thuộc đảng bộ xã (phường, thị trấn); các trường công lập đều có tổ chức đảng.

      - Trên 80% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ. Phát triển đảng viên mới từ 7% trở  lên so với tổng số đảng viên. Tỷ lệ đảng viên trong ngành y tế đạt 25% trở lên; ngành giáo dục đạt 20% trở lên; lực lượng dân quân tự vệ đạt 18% trở lên.

      - Công tác kiểm tra, giám sát: cấp ủy các cấp thực hiện điều 30 của Điều lệ Đảng, tăng 10-20% và Ủy ban Kiểm tra các cấp thực hiện điều 32 của Điều lệ Đảng, tăng 10-20% so với nhiệm kỳ 2005-2010. Đối với các vi phạm, tiến hành kiểm tra, xử lý đạt 100% số vụ việc được phát hiện.

      3.5- Về công tác Mặt trận, các  đoàn thể nhân dân

      - Mặt trận Tổ quốc: đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, triển khai có hiệu quả các phong trào, các cuộc vận động; thành lập 100% Ban giám sát đầu tư cộng đồng tại xã, phường, thị trấn; phấn đấu xây dựng khu dân cư tiên tiến đạt 94%, Ban công tác Mặt trận vững mạnh đạt 75%, Ban Thanh tra nhân dân vững mạnh đạt 75%.

      - Liên đoàn lao động: thực hiện tốt các chỉ tiêu của Chương trình hành động xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tập trung phát triển tổ chức công đoàn, đoàn viên trong khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước; chăm lo công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp; 60% công đoàn cơ sở khu vực ngoài nhà nước mở Hội nghị người lao động.

      - Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, giới thiệu cho Đảng 15.000 đoàn viên ưu tú; tỷ lệ tập hợp thanh thiếu nhi đạt 60%.

      - Hội Nông dân: phấn đấu 100% cán bộ hội cơ sở, chi, tổ Hội Nông dân được học tập về pháp luật, khoa học kỹ thuật, kinh tế; phát triển hội viên mới 5% trên tổng số lao động nông dân từ 18 tuổi trở lên chưa tham gia tổ chức hội; hàng năm mỗi cơ sở hội giới thiệu cho Đảng xem xét kết nạp đảng ít nhất 2 đối tượng là hội viên ưu tú; nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi.

      - Hội Liên hiệp phụ nữ: phấn đấu 75% hội viên  được tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và các kiến thức khác; tập hợp 75% phụ nữ trong độ tuổi vào hội; xây dựng 90% chi, tổ hội vững mạnh xuất sắc.

      - Hội Cựu chiến binh: Phát triển trên 90% cựu quân nhân vào Hội; giới thiệu kết nạp 100 đảng viên là cựu chiến binh; không còn nhà dột nát cho hội viên; thành lập 350 Câu lạc bộ cựu quân nhân, với 18.000 hội viên tham gia.

      4 Các nhiệm vụ chủ yếu

      - Phát huy lợi thế biển, bờ biển, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng mạnh tỷ trọng dịch vụ, xác định phát triển cảng là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời phát triển mạnh dịch vụ hậu cần (logistics). Xây dựng hệ thống cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải trở thành hệ thống cảng trung chuyển của khu vực và quốc tế. Phát triển dịch vụ dầu khí, vận tải; chú trọng đầu tư, phát triển các loại hình dịch vụ mới hiện đại, chất lượng cao.

      - Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, ở mức gấp 1,8 - 2 lần so với mức bình quân chung của cả nước trên cơ sở chuyển đổi mô hình tăng trưởng, kết hợp hợp lý việc phát triển theo chiều rộng và theo chiều sâu, gia tăng giá trị của hàng hóa, dịch vụ.

      - Rà soát điều chỉnh các quy hoạch hiện có, đồng thời lập mới một số quy hoạch để phù hợp tỉnh công nghiệp và cảng biển hiện đại.

      - Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế  quốc tế. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, huy động tối đa các nguồn vốn cho đầu tư phát triển, với mức gấp 2,5 lần so với giai đoạn 2006-2010. Ưu tiên đầu tư mạnh kết cấu hạ tầng thiết yếu, trước hết là hệ thống đường giao thông kết nối hệ thống cảng Cái Mép - Thị Vải với các đường quốc lộ và các đường vành đai của khu vực; tiếp tục đầu tư kết cấu hạ tầng cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các khu du lịch, các khu đô thị và nông thôn.

      - Phát huy tối đa nhân tố  con người, coi con người là  chủ thể, nguồn lực chủ  yếu và là mục tiêu của sự  phát triển; tăng tuổi thọ bình quân, nâng cao trình độ học vấn, mức thụ hưởng văn hóa tinh thần và chất lượng cuộc sống người dân. Đảm bảo an sinh xã hội và phúc lợi xã hội.

      - Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, khám chữa bệnh; hoàn thành thiết chế văn hóa 3 cấp; đẩy mạnh xã hội hóa trên các lĩnh vực: văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao và môi trường.

      - Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong cải cách hành chính, hoàn thiện quy trình một cửa, một cửa liên thông ở các cấp, các sở, ngành gắn với việc ứng dụng công nghệ thông tin và gắn với đào tạo, tăng cường kỷ luật kỷ cương, nâng cao trình độ, trách nhiệm phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức.

      - Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

      - Tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị. Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh về phát huy dân chủ và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.

      5. Phát triển kinh tế

      - Ngành công nghiệp: chọn lọc phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, công nghiệp chế biến, sử dụng công nghệ cao, tiêu tốn ít năng lượng, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, có sức lan tỏa thu hút công nghiệp phụ trợ cùng phát triển để lấp đầy các khu công nghiệp hiện có; giảm dần công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Rà soát, thu hồi các dự án đã cấp giấy chứng nhận đầu tư nhưng chưa triển khai thực hiện. Đồng thời không thu hút thêm các dự án mới về sản xuất thép, xi măng, hoá chất và các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Phát triển công nghiệp lọc, hóa dầu và các loại công nghiệp phụ trợ cho công nghiệp lọc, hóa dầu; công nghiệp sản xuất container, thiết bị nâng hạ, cơ khí, bao bì, đóng gói phục vụ cho hoạt động của hệ thống cảng.

      Rà  soát lại quy hoạch, chỉ thành lập mới các khu, cụm công nghiệp trên cơ sở sức chịu đựng về môi trường của tỉnh gắn liền với nhu cầu về số lượng lao động nông nghiệp cần chuyển dịch sang công nghiệp. Quan tâm phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiêp ở các vùng nông thôn. Trên cơ sở đó sắp xếp lại sản xuất tiểu thủ, công nghiệp trên địa bàn và xây dựng huyện nông thôn mới.

      - Ngành dịch vụ: phát huy các tiềm năng, lợi thế của tỉnh tập trung phát triển mạnh dịch vụ cảng biển, hậu cần (logistic), du lịch, dầu khí, vận tải, hàng hải và các dịch vụ khác tạo bước phát triển đột phá về dịch vụ giai đoạn 2011-2015. Phát triển mạnh các dịch vụ khác bao gồm dịch vụ thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thông tin truyền thông, kinh doanh bất động sản, tư vấn pháp lý, tư vấn đầu tư, chuyển giao công nghệ, y tế, giáo dục, đào tạo...góp phần làm tăng mạnh cơ cấu dịch vụ của tỉnh.

       Về dịch vụ cảng biển: điều chỉnh quy hoạch cho tàu có trọng tải đến trên 100.000 tấn cập cảng để xây dựng hệ thống cảng Cái Mép - Thị Vải trở thành hệ thống cảng trung chuyển của khu vực và quốc tế; đầu tư hệ thống đường giao thông kết nối hệ thống cảng Cái Mép - Thị Vải với các đường quốc lộ, các đường vành đai của khu vực và sân bay Long Thành để tạo chân hàng vững chắc, khai thác ưu thế vượt trội của tỉnh về cảng nước sâu.

      Về  dịch vụ du lịch: xây dựng các loại hình, các sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh so với các địa phương ven biển khác. Tập trung phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh; du lịch sinh thái; du lịch hội thảo, sự kiện... Ưu tiên bố trí vốn ngân sách đầu tư cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào các khu du lịch đã được quy hoạch và các dự án du lịch trọng điểm. Tập trung giải quyết tốt môi trường du lịch đảm bảo văn minh, an toàn, thân thiện.

      - Huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển theo hướng: ưu tiên thu hút các dự án sử dụng công nghệ cao, tiết kiệm năng lượng, nước, đất đai, thân thiện với môi trường, phát triển bền vững. Đối với các dự án đã cấp giấy chứng nhận đầu tư, tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đôn đốc gắn với các biện pháp chế tài, yêu cầu các nhà đầu tư chuyển hóa vốn đăng ký sang vốn thực hiện theo tiến độ đã cam kết. Đối với nguồn vốn ngân sách, tập trung đầu tư cho các công trình trọng điểm, các công trình phục vụ dân sinh.

      Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Rà soát quy hoạch sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đối với một số diện tích nông nghiệp năng suất thấp sang sản xuất công nghiệp, dịch vụ có hiệu quả hơn; phát huy tối đa lợi thế về đất đai đối với những diện tích còn lại để nâng cao giá trị gia tăng trong nông nghiệp, hình thành một số khu nông nghiệp công nghệ cao. Trên cơ sở đó định hướng phát triển các lĩnh vực như sau:

      Nâng cao năng xuất và giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp. Áp dụng công nghệ sinh học, các giải pháp bảo quản và chế biến trong nông nghiệp. Nâng cao chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm; tăng giá trị nông sản trên một đơn vị diện tích trồng trọt. Phát triển, nhân rộng mô hình sản xuất - kinh doanh về nông nghiệp đạt giá trị sản lượng trên 50 triệu đồng/ ha. Nâng nhanh tỷ trọng chăn nuôi cho dần ngang bằng trồng trọt, phấn đấu đến năm 2015 tỷ trọng chăn nuôi chiếm 45% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Phấn đấu đến năm 2015 có từ 20% trở lên số xã của các huyện đạt tiêu quốc gia về nông thôn mới theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ. 

       Phát triển thuỷ hải sản theo hướng đẩy mạnh việc nuôi trồng và khai thác biển khơi, tăng cường chế biến xuất khẩu đồng thời chú trọng đến tiêu dùng nội địa. Duy trì khai thác hải sản ở quy mô hợp lý. Khuyến khích ngư dân đầu tư tàu lớn, trang thiết bị hiện đại khai thác hải sản xa bờ. Không phát triển thêm tiến tới giảm dần số tàu nhỏ khai thác ven bờ. Sớm đầu tư xây dựng khu chế biến hải sản tập trung của tỉnh để đến năm 2015 di dời các nhà máy trong khu dân cư và trong đô thị vào khu chế biến tập trung. Duy trì nuôi trồng thuỷ sản ở quy mô hợp lý tại Vũng Tàu, Phước Tỉnh, Long Hải, Phước Hải, Bình Châu, đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường, sự phát triển hài hòa giữa các ngành du lịch và hải sản, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh ven biển.

      Bảo vệ và phát phuy giá trị rừng hiện có, đặc biệt là khu vườn Quốc gia Côn Đảo, khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, khu rừng ngập mặn Phước Cơ và các khu rừng ngập mặn đã được quy hoạch. 

      6. Phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học-công nghệ, y tế, văn hóa, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao đáp ứng yêu cầu nâng cao sức khỏe phục vụ đời sống nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội.

        - Phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ. Tăng mức đầu tư ngân sách cho sự nghiệp giáo dục đào tạo, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực giáo dục. Đảm bảo 100% xã, phường có trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; ngoại trừ huyện Côn Đảo, các huyện có từ 3 - 4 trường trung học phổ thông trở lên, trong đó ít nhất có 01 trường trung học phổ thông tư thục. Nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông các cấp, phấn đấu đến năm 2015, đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học, có 40-50% số trường học bậc mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia, tỉnh đạt chuẩn phổ cập mầm non 5 tuổi. Kêu gọi  các nhà đầu tư trong và ngoài nước xây dựng 1-2 trường đại học chất lượng cao.

      Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế biển và phục vụ việc chuyển dịch lao động nông nghiệp, nông thôn để tăng nhanh tỷ lệ lao động nông nghiệp chuyển sang dịch vụ và công nghiệp. Chú trọng giải quyết nhà ở cho người thu nhập thấp và công nhân các khu công nghiệp; chăm lo đời sống các hộ dân trong khu vực giải tỏa; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp, bảo đảm thực hiện tốt các quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động. Khuyến khích, ưu tiên thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư các trường dạy nghề có chất lượng cao. Giai đoạn 2011 - 2015  hỗ trợ dạy nghề cho khoảng 40.000 lao động nông thôn và lao động có đất chuyển mục đích sử dụng khác.

      Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh đổi mới công nghệ, thiệt bị; phối hợp với các viện nghiên cứu, các trường đại học nghiên cứu, ứng dụng, đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, trước hết là sản xuất nông nghiệp, đổi mới giống cây trồng vật nuôi có năng suất, chất lượng cao. Xây dựng các giải pháp để thu hút hơn nữa các nhà khoa học vào công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với các công trình kinh tế - xã hội lớn của tỉnh.

      - Phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ  nhân dân. Tập trung đầu tư xây dựng, trang bị, đưa vào sử dụng bệnh viện Bà Rịa 700 giường, bệnh viện Vũng Tàu 350 giường, bệnh viện Y học dân tộc, Lao và bệnh phổi, Phụ sản, Nhi, Mắt, Điều dưỡng - phục hồi chức năng; các Trung tâm cấp cứu 115, Trung tâm nội tiết, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm sức khoẻ môi trường - vệ sinh lao động và bệnh viện tuyến huyện, trung tâm y tế huyện, các trạm y tế cấp xã. Đẩy mạnh xã hội hóa để thu hút đầu tư xây dựng các trung tâm điều trị, điều dưỡng, các bệnh viện chuyên khoa cao đạt trình độ chuyên môn khu vực và quốc tế.

       - Chăm lo xây dựng đời sống văn hoá. Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trong cộng đồng dân cư. Nâng cao chất lượng chương trình và lượng phát sóng của đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh; tăng số buổi biểu diễn văn nghệ, chiếu phim để nâng cao chất lượng và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng, nâng cao thành tích các môn thể thao thế mạnh của tỉnh.

       - Tăng cường biện pháp đảm bảo an sinh xã hội. Tiếp tục thực hiện các giải pháp giảm nghèo bền vững, không để tái nghèo. Bước đầu xây dựng tiêu chí cho các hộ từ thu nhập thấp vươn lên thu nhập trung bình và khá bằng các chính sách hỗ trợ dài hạn để thay thế dần chương trình xóa đói giảm nghèo. Đầu tư phát triển mạnh nhà ở xã hội để đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người có thu nhập thấp, cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang, công nhân trong các khu công nghiệp và nhà ở cho sinh viên. Chăm lo đời sống các hộ dân trong các khu vực giải tỏa; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp, bảo đảm thực hiện tốt các quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động. Đảm bảo tốt an sinh và phúc lợi xã hội. Thực hiện tốt chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho các đối tượng được thụ hưởng và các hoạt động bảo trợ xã hội, đến cuối năm 2015 có 100% người già neo đơn, trẻ mồ coi không nơi nương tựa, người khuyết tật được chăm sóc bảo trợ.

      Thực hiện tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với người có công, gia đình chính sách. Tăng cường vận động tài trợ từ các tổ chức, cá nhân đối với công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo người có công, bảo trợ xã hội. Thực hiện chính sách hỗ trợ đối với đồng bào dân tộc. Xây dựng, thực hiện chương trình hàng động vì trẻ em giai đoạn 2010-2015.

      7. Tăng cường công tác bảo vệ môi trường và  quản lý, sử dụng hợp lý, có  hiệu quả tài nguyên, khoáng sản; không thu hút dự án đầu tư theo 05 nhóm ngành được Bộ Tài nguyên và Môi trường khuyến cáo. Triển khai chương trình ứng phó, thích nghi với sự biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng cao.

      Ngăn ngừa, hạn chế tác  động xấu đối với môi trường do nước thải: từng bước thu gom nước thải đô thị, tách riêng với nước mưa và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; kiểm soát toàn bộ nguồn nước thải công nghiệp từ các KCN, cụm CN và kiểm soát các nguồn nước thải công nghiệp ngoài các KCN; thu gom và xử lý toàn bộ nước thải tại các bệnh viện, trung tâm y tế và các trung tâm thương mại. Thực hiện nguyên tắc tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm phải khắc phục ô nhiễm, bồi thường thiệt hại.

      Phòng ngừa, hạn chế các tác  động xấu đối với môi trường do khí  thải: kiểm soát ô nhiễm bụi trong đô thị và khu dân cư. Cương quyết xử lý các phương tiện giao thông hoạt động gây ô nhiễm bụi và mùi hôi. Hạn chế và tiến đến chấm dứt loại hình hoạt động sản xuất bột cá gây ô nhiễm môi trường trong phạm vi rộng.

      Tăng cường quản lý và xử  lý chất thải rắn: điều tra, khảo sát, nghiên cứu, lập đề án đưa ra giải pháp để xử lý chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tỉnh, chấm dứt tình trạng chôn lấp rác thải không hợp vệ sinh trước năm 2015. Đầu tư nâng cấp các phương tiện vận chuyển rác thải đô thị, đảm bảo không gây ô nhiễm trong quá trình vận chuyển rác. Chất thải nguy hại công nghiệp và y tế được bảo quản, vận chuyển và xử lý đúng quy định, đảm bảo không gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe nhân dân.

      Tăng cường công tác quan trắc chất lượng môi trường, từng bước lắp đặt hệ thống quan trắc tự động chất lượng nước và không khí tại các khu vực nhạy cảm về môi trường. Tất cả các KCN, cụm CN và các cơ sở có nguồn nước thải lớn đều phải lắp đặt hệ thống quan trắc tự động để kiểm soát nguồn nước thải trước khi thải ra môi trường.

      Đẩy mạnh hoạt động thanh, kiểm tra về môi trường, chú trọng chế độ thanh tra đột xuất và cương quyết tạm đình chỉ, đình chỉ sản xuất các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, các cơ sở gây ô nhiễm kéo dài, thiếu thiện chí đầu tư xử lý ô nhiễm. Tăng cường nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường, kiện toàn nhân lực quản lý nhà nước về môi trường từ cấp tỉnh đến cấp xã, đảm bảo đủ nhân lực để thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt là cấp huyện và cấp xã; nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ bảo vệ môi trường, đáp ứng nhu cầu vay vốn để đầu tư xử lý ô nhiễm của các doanh nghiệp; mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường.

      Tăng cường công tác quản lý  tài nguyên khoáng sản, tập trung vào hoạt động khai thác khoáng sản và tận thu khoáng sản từ hoạt động nạo vét, khai thông luồng lạch làm vật liệu san lấp. Cương quyết xử lý đối với các hoạt động khai thác khoáng sản không được phép. Tăng cường quản lý tài nguyên nước, đảm bảo khai thác tài nguyên nước một cách hợp lý, bền vững, cương quyết xử lý các hoạt động khai thác tài nguyên nước gây cạn kiệt, xâm nhập mặn và không được phép.

      8. Phát triển các vùng và huyện, thị, thành phố

      Tiến hành rà soát và quy hoạch lại quy hoạch tổng thể  phát triển tỉnh theo hướng lấy dịch vụ cảng là  trọng tâm để hướng tới mục tiêu xây dựng thành phố cảng và đẩy mạnh phát triển các vùng kinh tế trên địa bàn tỉnh.

      - Phát triển hành lang kinh tế  công nghiệp - cảng biển dọc quốc lộ 51, hình thành các đô thị cảng Vũng Tàu, Phú Mỹ. Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị mới Phú Mỹ theo quy hoạch, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa phù hợp với quy mô tăng trưởng kinh tế và tốc độ công nghiệp hóa. Xây dựng và phát triển đô thị mới Phú Mỹ với tính chất là đô thị cảng, công nghiệp, dịch vụ và đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV trước năm 2015, đạt tiêu chuẩn đô thị loại III vào năm 2020. Dành toàn bộ diện tích đất khoảng 1000 ha tại Cái Mép hạ để phát triển dịch vụ hậu cần sau cảng, gắn liền với hệ thống cảng Cái Mép; quy hoạch phát triển quần thể khu du lịch Núi Dinh; tiếp tục hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị của thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa để kết nối tạo thành hệ thống đô thị cảng Vũng Tàu - Phú Mỹ.

      - Phát triển hành lang dọc tuyến  đường ven biển Vũng Tàu, Long Hải, Phước Hải, Bình Châu. Phát huy lợi thế biển của tỉnh, xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng phục vụ cho nhu cầu của toàn vùng Đông Nam bộ và cả nước. Phát triển thành phố Vũng Tàu và các đô thị Long Hải, Phước Hải, Hồ Tràm, Bình Châu thành các đô thị du lịch xanh, có hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh, đồng bộ với môi trường xanh, sạch, văn minh. Trong đó trọng tâm là phát triển các trung tâm dịch vụ du lịch tại Núi lớn - Núi Nhỏ, Chí Linh - Cửa lấp, rừng ngập mặn Phước Cơ, Long Hải, Phước Hải, Hồ Tràm, Hồ Cốc và Bình Châu.

      - Xây dựng thành phố Vũng Tàu trở  thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh vào năm 2015, ngày càng có vị trí quan trọng cho sự phát triển của tỉnh, là đô thị du lịch, dịch vụ “ xanh, sạch, đẹp, văn minh, thân thiện, ấn tượng”. Quy hoạch phát triển Gò Găng thành một Trung tâm đô thị- dịch vụ đa ngành; xây dựng khu công nghiệp lọc hóa dầu Long Sơn; quy hoạch và đầu tư du lịch ở núi Lớn - núi Nhỏ.

      - Xây dựng thị xã Bà Rịa trở thành thành phố loại II vào năm 2015, là trung tâm hành chính - chính trị của tỉnh, phát triển mạnh dịch vụ - thương mại.

      - Phát triển vùng kinh tế  nông, lâm nghiệp ở các huyện Châu Đức, Xuyên Mộc, Đất Đỏ, hình thành các mô hình xã, huyện nông thôn mới. Từng bước phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp của tỉnh theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đầu tư phát triển hạ tầng nông thôn như chương trình giao thông thôn, nước sạch nông thôn, kiên cố hóa kênh mương, điện nông thôn phục vụ đời sống nhân dân và sản xuất nông nghiệp theo mục tiêu xây dựng nông thôn mới.

      - Phát triển Côn Đảo theo hướng xây dựng thành Khu kinh tế du lịch - dịch vụ  chất lượng cao. Tập trung mọi nỗ lực để Côn Đảo bứt phá mạnh mẽ, phát triển nhanh, mạnh hơn cho yêu cầu phát triển du lịch, phát triển kinh tế của Côn Đảo. Khẩn trương hoàn thiện các quy hoạch của Côn Đảo phù hợp với yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống cấp và thoát nước, cấp điện; nâng cấp sân bay, bến cảng, tôn tạo, bảo tồn di tích lịch sử và kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch để đẩy mạnh thu hút đầu tư vào Côn Đảo. Cải thiện một bước đáng kể về đầu tư và phát triển hệ thống giao thông đường biển và đường hàng không bằng các chính sách hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.

      9. Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo  đảm chính trị - xã  hội ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã  hội

      Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân và khu vực phòng thủ tỉnh ngày càng vững chắc; xây dựng thế trận lòng dân, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện tham gia đấu tranh có hiệu quả, bảo vệ chủ quyền biển, đảo và thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc.

      Kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường quốc phòng - an ninh, với phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về quốc phòng - an ninh, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật cho lực lượng quân sự, công an, biên phòng đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong tình hình mới. Nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng cho các đối tượng. Chủ động phòng ngừa và đấu tranh với những quan điểm sai trái, cơ hội chính trị, tự diễn biến, diễn biến hòa bình, khủng bố, bạo loạn lật đổ. Tăng cường công tác an ninh nông thôn, bảo đảm trật tự - an toàn xã hội.

      10. Nâng cao năng lực lãnh đạo và  sức chiến đấu của  Đảng bộ

      Xây dựng Đảng về chính trị: đa dạng hóa các hình thức giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên định Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phòng ngừa suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống.

      Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng. Tăng cường công tác thông tin đối ngoại, tích cực chủ động hội nhập quốc tế. Đổi mới công tác tuyên truyền, học tập Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nâng cao tính thiết thực, ý nghĩa giáo dục trong hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn.

      Đưa việc thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đi vào chiều sâu và trở thành công việc thường xuyên của mỗi tổ chức đảng, và từng cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống và thiếu tinh thần trách nhiệm trong thi hành công vụ.

      Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cán bộ đến năm 2020. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, kết hợp các độ tuổi, đảm bảo tính liên tục, kế thừa, tăng tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số so với nhiệm kỳ trước. Nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ, công tác phân loại đảng viên và công tác bảo vệ chính trị nội bộ, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, sử dụng  cán bộ. Ban hành quy định về đào tạo, luân chuyển, ưu đãi để tạo nguồn cán bộ, thu hút nhân tài và tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng về làm việc ở cơ sở. Thường xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức cơ sở đảng; đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 10-CT/TW, nâng cao tính chính trị, tính chiến đấu, tính xây dựng trong tổ chức và sinh hoạt chi bộ. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận cấp ủy các cấp.

       Tập trung kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; phẩm chất đạo đức, lối sống, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên; việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện dân chủ trong đảng, đoàn kết nội bộ và công tác cán bộ; việc thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí; cải cách thủ tục hành chính; hoạt động tư pháp. Nâng cao trách nhiệm Ủy ban Kiểm tra các cấp trong việc giải quyết, kết luận đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến đảng viên và cán bộ trong diện quản lý. Củng cố, kiện toàn cơ quan thanh tra, kiểm tra; nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, khả năng xử lý tình huống, phẩm chất nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra các cấp, đáp ứng với đòi hỏi của thực tiễn.

      Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Phát huy tính chủ động, sáng tạo, tôn trọng các  nguyên tắc, đi đôi với tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của từng tổ chức trong hệ thống chính trị. Thực hiện tốt chế độ lãnh đạo tập thể, cụ thể hóa trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Tăng cường kiểm tra, giám sát người đứng đầu tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp trong việc thực hiện, chức trách, nhiệm vụ được giao; trong việc thực hiện Thông báo kết luận của cấp có thẩm quyền. Đồng thời, phải nhắc nhở, phê bình, kiểm điểm trách nhiệm hoặc xử lý kịp thời trường hợp tổ chức, cá nhân không chấp hành nghiêm. Đẩy mạnh công tác dân vận của chính quyền các cấp và hệ thống chính trị, xây dựng cơ chế đảm bảo cho nhân dân thực hiện chức năng giám sát, chức năng phản biện xã hội và tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực khác.

      11. Tạo sự chuyển biến về  chất lượng, trong hiệu lực, hiệu quả  quản lý của bộ máy chính quyền 

      Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý  và hoạt động điều hành của HĐND, UBND các cấp. Chuẩn bị tốt cho bầu cử Quốc hội khóa XIII và HĐND khóa V, nâng cao một bước trình độ đại biểu dân cử. Đổi mới, nâng cao chất lượng các kỳ họp, tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát theo chức năng và thẩm quyền. Tiếp tục lấy cải cách thủ tục hành chính làm khâu đột phá trong cải cách hành chính; tập trung rà soát, đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính giai đoạn II của Chính phủ. Niêm yết công khai thủ tục hành chính, quy trình tiếp nhận, xử lý, trả kết quả cho tổ chức, công dân. Tập trung chỉ đạo giải quyết một cách triệt để tình hình khiếu nại tố cáo của công dân. Nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân. Tăng cường công tác giám sát của Thường trực, các ban Hội đồng nhân dân.

      Tăng cường công tác dân vận vận của chính quyền các cấp; thực hiện có hiệu quả qui chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng và thực hiện các qui chế phối hợp, chương trình phối hợp giữa Uỷ ban nhân dân với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. 

      Tiếp tục thực hiện Nghị quyết của số 49 ngày 02/6/2002 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; không làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm; khắc phục việc kéo dài thời gian điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Phát huy vai trò Hội thẩm nhân dân, nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên. Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), tích cực phòng ngừa, kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm. 

      12. Phát huy dân chủ và  sức mạnh đại đoàn kết toàn dân

      Đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ, Pháp lệnh dân chủ  ở cơ sở; thực hiện tốt các cơ chế đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp và tham gia quản lý xã hội. Tiếp tục quán triệt, tổ chức có hiệu quả các chủ trương, chính sách, chương trình, dự án đối với đồng bào dân tộc thiểu số; các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp lệnh Nhà nước về tín ngưỡng tôn giáo. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc  gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân.

      Quan tâm giáo dục, bồi dưỡng, phát triển và phát huy vai trò xung kích cách mạng của giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân, đoàn viên - thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; xây dựng gia đình, nuôi dưỡng, giáo dục con cái trở thành công dân có ích cho xã hội và tham gia xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.

      Phát huy tính chủ động, sáng tạo của Mặt trận, các  đoàn thể chính trị - xã hội trong đổi mới nội dung, phương thực hoạt động phù hợp với sự chuyển biến của thực tiễn và nhu cầu thiết thực của đoàn viên, hội viên. Hướng mạnh về cơ sở, thực hiện tốt vai trò giám sát, vai trò đại diện, phản biện xã hội. Phát triển mạnh tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên trong các loại hình doanh nghiệp, quan tâm và tạo điều kiện cho hội Liên hiệp Thanh niên và các tổ chức xã hội nghề nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động. Xây dựng lực lượng cốt cán, nâng cao số lượng - chất lượng cán bộ, đoàn viên, hội viên Mặt trận, các đoàn thể.

      Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V khẳng định quyết tâm của Đảng bộ, quân và dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát huy hơn nữa truyền thống cách mạng, truyền thống đoàn kết, tận dụng tốt thời cơ, vượt qua thách thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội, xây dựng tỉnh ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. 

                              BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH

Các tin khác
  • Huyện Tân Thành: Phát huy vai trò cơ sở Đảng(28/09/2010 11:39)
  • Đảng bộ quân sự tỉnh phát huy sức mạnh hệ thống chính trị(21/09/2010 10:41)
  • Đảng bộ khối Dân chính đảng: Đại hội lần thứ III nhiệm kỳ 2010 – 2015(08/09/2010 08:41)
  • Đại hội đảng bộ Đảng bộ khối Dân-Chính-Đảng (NK 2010-2015): Phát huy trí tuệ của toàn hệ thống chính trị để hoàn thành nhiệm vụ đề ra(04/09/2010 11:00)
  • Bế mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đất Đỏ lần X - Nhiệm kỳ 2010 – 2015(01/09/2010 16:04)
  • Khai mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đất Đỏ lần X, nhiệm kỳ 2010 – 2015(31/08/2010 16:17)
  • Đảng bộ khối doanh nghiệp BR-VT: Chú trọng công tác củng cố, xây dựng và phát triển Đảng(26/08/2010 16:16)
  • Kỳ họp thứ 12 Hội đồng Lý luận Trung ương: Đóng góp ý kiến vào một số nội dung trong các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng(26/08/2010 16:05)
  • Đại hội Đảng bộ khối Doanh nghiệp BR-VT nhiệm kỳ 2010- 2015 : Xây dựng Đảng vững mạnh trên cả 3 mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cán bộ(26/08/2010 16:00)
  • Tổ chức các ngày kỷ niệm thiết thực và hiệu quả(24/08/2010 09:51)
  • ĐƯỜNG DÂY NÓNG
    Nhận xét về website mới của Đài PT-TH tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
    Rất đẹp
    Đẹp
    Bình thường
    Lượt truy cập: 4874484
    Đang Online: 56
    Thời sự Truyền hình Phát thanhGiới thiệu BRTBRT.newsLịch phát sóng
    © Bản quyền Đài Phát Thanh - Truyền Hình Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
    Giấy phép số:32/GP-TTĐT, cấp ngày 25/2/2011
    Tổng biên tập: Võ Văn Cầm